(tiếp theo kỳ trước)

Châu Đình An

Đó là cách chơi của tuổi mới lớn, hồn nhiên trong sáng như những cánh đồng một màu mạ non. Một nơi chốn tôi đã sống qua là mảnh đất Phương Cựu. Đây là thôn làng có từ lâu đời, người dân làng sinh sống bằng các nghề như, làm ruộng và làm nghề muối. Ngôi làng Phương Cựu được bao bọc một bên là cánh đồng ruộng, và một bên là các vạt đất trải dài tận bờ biển và nằm cạnh làng Tri Thuỷ (làng sinh ra Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu), giáp với làng chài Tân An, nó cũng nằm gần làng người Chăm Bỉnh Nghĩa.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn mang nặng hình ảnh ngôi làng Phương Cựu, bởi vì nơi ấy đã cho tôi nhiều tình cảm yêu thương của một cô giáo là cô T. dạy tại ngôi trường Tiểu học trong làng. Khi tôi từ Song Mỹ đến đây để xin làm công nhân cho việc đắp đê làm ruộng muối. Dưới ánh nắng chói chang của miền Phan Rang khô cằn, tôi đã trải qua những năm tháng khốn khó của năm 1978, đó là dùng sức mình để gánh các tảng đất sét rất nặng và đổ xuống bờ ruộng muối để bồi đắp cho bờ đất ngăn nước biển không bị tháo chảy. Nghĩa là các bờ đất cần phải nện thật chặt, nhằm ngăn chận nước biển đưa vào những ô vuông nhỏ của các ruộng nước mặn không bị rỉ nước thất thoát.

Tôi đã thấy cách làm muối của người dân. Nước mặn của biển dẫn vào vào tụ lại nơi đây. Thế rồi dưới ánh nắng chói chang qua bao ngày, nước mặn bắt đầu sền sệt, và người ta dùng một cái bò cào, họ cào qua cào lại, cào lui, cào tới cho đến khi nào nước biển mặn trở nên sền sệt rồi bắt đầu đặc quánh lại. Sau bao ngày nắng chói chang, trở thành những đống muối, và được dùng để ướp cá làm nước mắm, và còn được đưa đi chế biến muối trắng tinh. Vì hiểu được giá trị làm ra muối, mà bây giờ mỗi khi dùng muối nấu ăn, tôi luôn nghĩ đến bao mồ hôi và công sức của người dân Phương Cựu xa xưa đã làm ra hạt muối cho đời.

Tôi đã sống ở Phương Cựu trong hơn 2 năm cho đến năm 1980 là vượt biển. Cũng chính nơi đây mà tôi hiểu được cách làm nghề nông chính xác, đó là làm ruộng lúa. Thật là thích thú khi nghĩ lại lúc tập đứng sau cày, bừa, là giàn kéo do con bò kéo trên dãi đất của ruộng lúa. Những ngày đi canh nước ban đêm thật là thú vị. Đó là khi mùa mưa về, nước từ nguồn đổ xuống, là những con nước chảy từ các dãy núi bao quanh làng đổ xuống, chúng tôi phải đi vét mương. Những con kênh nhỏ qua mùa nắng thì sau những tháng ngày khô hạn, bây giờ cần làm sạch cỏ dại mọc cao hai ven bờ và vét đất cho kênh thông nước mang vào ruộng.

Vét mương là việc cực nhất. Bạn đứng dưới mương sâu quá đầu người, hoặc ngang ngực mình, dùng cuốc, mà ở đây họ gọi là “leng”, cuốc cái phập xuống đất, miếng đất sình lầy nằm gọn trong lòng cuốc, rồi bạn phải dùng sức nâng nó lên, tay trái giữ đầu cán cuốc, tay phải xoay mạnh một vòng để lực đẩy miếng đất sình lầy đó bay ra khỏi chảo cuốc và văng lên hai bên bờ mương.

Cứ thế trọn một ngày vét mương là bạn sẽ đừ đoạ thấm mệt. Chưa kể đất trời Phan Rang khí hậu nhiệt đới nóng như lửa hoả ngục, mồ hôi tôi ướt đẫm lưng áo và toàn thân như tắm bởi mồ hôi chan chứa. Chưa kể con đỉa bám vào ống chân bạn hút máu mình, và bạn phải nhổ bọt nước miếng thấm vào tay để bôi vào chỗ đỉa bám, giật nó ra, không dễ dàng, vì đỉa có hai vòi, khi nó bám vào da thịt mình thì nó hút máu mình rất chặt. Do vậy, người ta bảo “theo gái, dai như đỉa mới thành công”.

tán gái nếu muốn thành công

phải dai như đỉa mới “bồng” được em

Đồng quê là nơi công việc cực nhọc, nhất là cách canh tác không có nông cơ, nông cụ, toàn là dùng sức người. Nhưng khi vét xong một đoạn mương là vui ra phếch, nhất là bắt được những con chuột đồng, làm ngay tại chỗ, bầm nhuyễn cho vào lon guigoz, loại lon sữa bột bằng nhôm, bạn treo nó toong teng trên cán giá cây, nổi lửa lên, và bạn sẽ hưởng mùi thơm hành mỡ ào ạt, cho chút tỏi mang theo, nêm nước mắm, thảy vào ớt hiểm cay cắt nhỏ, chưa kể còn bầm chung với lá me non, khi thịt chuột đồng vừa chín tới, đổ lon guigoz ra lá chuối trải dưới tàng cây mù u, vài xị đế và cứ thế, bánh tráng mè đen xúc với thịt chuột đồng bầm nhuyễn thì… không say không về! Mời chú Ba, mời cậu Tư, nâng ly, suýt soa và say mèm rượu đế lâng lâng dưới ánh nắng chiều của một ngày sắp tắt.

Đó, kỷ niệm của đồng quê hồn nhiên mà tôi đã có dịp sống qua, cảm ơn Phương Cựu. Mãi mãi không thể nào quên những ân tình yêu thương sẽ theo tôi mãi cho đến khi nhắm mắt.

Trở lại trò chơi ú tim tìm kiếm hấp dẫn, nhưng… dù mê chơi, chúng tôi cũng phải đi ngủ để còn sức cho ngày nắng lên làm công việc “dê” lúa nữa. Không có gì thú cho bằng ngủ trong đống rơm mới tinh thơm mùi hương của lúa, của rạ, của đồng quê, của đất trời quê hương mình. Tôi “lót” một cái ổ rơm, khoanh tròn những nhánh rơm thành những cái bện, chất thêm rơm dày lên và đặc biệt là phải làm trên cao của đống rơm mới thích.

Nằm trên “đỉnh” của đống rơm mới tinh thơm ngát, nhìn bầu trời đêm bao la. Những vạt sao lấp lánh như những hạt kim cương, cái to, cái nhỏ, có những chuỗi sao đan kết những hình thù trông lạ mắt. Trí tưởng tượng tôi làm việc, có nhánh sao hình thù con chó, có hình thù con gái, có hình thù đôi mắt của giai nhân nào đó thoáng qua… và tôi thấy thoáng bình an cho dù có những ngày nhọc nhằn trên quê hương chiến tranh.

Nếu cho tôi được chọn lại cuộc sống mình, thú thực tôi sẽ xin được chọn làm một nông dân hiền hoà, sản xuất lúa gạo và sống vui với cuộc sống thanh bình trên đồng ruộng lúa và những người quen trong xóm làng Phương Cựu tình thân hơn bất cứ nơi nào. Những cô Ba, chú Tư, anh Năm… và những ngày giỗ của bà con này mời bà con kia, “nhậu” tưng bừng vui mừng mùa gặt thành công với những bồ lúa đầy sân, đầy nhà.

Ruộng lúa được chăm sóc thì cho dù nắng rát, đất nghèo… nhưng ngó vậy mà tốt, đất tuy gần các ruộng muối, nhưng nhờ chăm sóc cấy cầy, phân bón, thuốc diệt sâu rầy, và nhà nông với phương châm “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” là no đủ, ăn chắc mặc bền.

Có những đêm đi canh nước. Là mình phải thức đêm để chờ con nước, và tháo cho mương nước chảy vào ruộng mình, hơn nữa phải xem xét các lỗ “mội”, là lỗ bị lươn hoặc chuột làm thủng, sẽ thất thoát nước trong ruộng lúa. Mỗi lần đi canh thức các ruộng lúa, là tôi chuẩn bị, khoai “gieo”, là một loại khoai luộc xong phơi khô, thêm phần nước trà, thuốc lá và không quên vác theo cây đàn guitar.

Đi canh thức ruộng ở xóm tôi, phải băng ngang một khu đất hoang, dài và rộng lớn, giữa khu đất có một cái gò u nổi lên với những bụi cây bao quanh um tùm. Dân làng gọi đó là gò Cát. Giữa gò có một ngôi cổ mộ của người Chiêm Thành, ban ngày tôi vào đào lỗ bắt con dông (loại bò sát giống con tắc kè), đã thấy đó là một ngôi cổ mộ có lẽ trên cả trăm năm. Rêu xanh mầu đậm phủ kín bức tường bao bọc chung quanh, và màu gạch xây dựng ngôi mộ cổ đã quá cũ bị vỡ nhiều mảng.

Ngôi mộ bao bọc những hàng cây tre cao chung quanh, người ta bảo là tre mỡ, thân tre to hơn cái bắp vế của đàn ông lực lưỡng, và tre cao nghều nghệu, mỗi lần gió mạnh thổi qua tiếng lá tre chạm vào nhau kêu xào xạc hoang đường.

Không ai dám chặt tre nơi cái gò Cát này, vì sợ “ông” thiêng liêng phạt thì chết. Nghe đồn “ông” đây là một con rắn lớn, được dân làng Chàm gọi là Thần Xà, và cứ mỗi năm là phải cúng cho ông thần xà lễ vật đặc biệt. Đó là một mạng người còn sống để ông “xơi”. Người Chàm tìm mấy người hành khất mù, mang về bỏ trên gò Cát, cho ăn uống phủ phê, và tối đến, ông “thần xà” xuất hiện xơi “sống” con người ta.

Lại còn chuyện ếm bùa thửa ruộng, cái nào bị chôn một cái chum ở góc ruộng, trong chum có tro cốt của người chết, thì ruộng lúa đó đừng hòng gặt được một hạt thóc.

Ban đêm, đi ngang gò Cát là việc táo tợn, ít ai dám băng ngang vào đêm tối. Vậy mà con đường đi làm ruộng vào ban đêm phải đi ngang cái gò này.

Tôi nghi ngờ câu chuyện thần thoại này, nhưng cũng teo teo khi thấy trời tối mờ, và dọc đường nhỏ đi canh thức nước cho ruộng lúa tôi ngửi thoang thoảng mùi nhang của ai đó khi cúng vái xong, cắm theo dọc bờ ruộng. Nhưng, bản tính “anh hùng rơm” nổi lên, nhất là trong xóm làng có nhiều bóng hồng thôn quê, từng “ái mộ” thằng tôi khi cầm đàn trên sân khấu văn nghệ của xóm. Mình phải bản lãnh chứ, do vậy trong lòng thì run vì cái gò Cát, nhưng chân thì cứ bước, và miệng thì phì phèo điếu thuốc lá cho đỡ… sợ!

Từ xa, nhìn cái gò nổi lù lù trong màn đêm với bóng tre bao quanh, mắt tôi làm như không thấy, nhưng bố khỉ, cứ phải nghĩ đến cái gò Cát với ngôi cổ mộ, chẳng biết ai nằm ở đấy, đàn ông hay là đàn bà? Rồi lòng nhủ… mình hiền lành mà, đâu có làm cái gì đến nỗi thần xà giận mình, bằng cớ là tuần trước mình đã nhặt rác của bọn chăn trâu trên gò, làm cho nơi yên nghỉ của “ngài” sạch sẽ. Lẽ đâu ngài lại doạ dẫm mình?

Nghĩ thì vậy, nhưng lòng cũng không bình an. Đường đi, không bóng người, từng cơn gió đồng ruộng thổi lồng lộng, xa xa đã thấy vài cái chòi với ánh đèn leo lét, tự dưng nổi da gà, một luồng lạnh chạy dài sóng lưng khi nghe một tiếng bịch, rồi hai tiếng bịch, sau đó là một loạt đất đá bay vèo vèo sau lưng tôi. Không cần biết là ai, tôi phóng như ngựa, chạy về phía trước, bất kể con đường nhỏ mờ mờ cát trắng dưới chân.

Tôi phóng chẳng mấy chốc đến cái chòi đầu tiên. Mấy con chó trong chòi nghe tiếng chân chạy của tôi túa ra sủa vang, rồi một người đàn ông cầm đèn soi trong chòi bước ra. Tôi la lớn “ông Tám ơi, con nè”. Vào chòi rồi tôi vẫn còn run, tim đập thình thịch.

Ai ra gò Cát thì ra

Em đây ở lại mã cha thần xà!

Một cái thú nhất nữa là sau khi đồng lúa gặt xong, bán lúa có chút tiền trong túi, nhưng chưa vui bằng mùa hè đi bắt chuột đồng. Thịt chuột đồng tuyệt vời. Nói đến con chuột thì ta sợ phải không? Nhất là các bà các cô. Bạn ơi, tôi cũng sợ cái thịt chuột đồng, nhưng khi ăn rồi, ghiền lúc nào chẳng biết. Chuột đồng lông vàng, và béo ngậy vì nhiều mỡ. Chúng nó ăn sang lắm, ăn toàn là hạt lúa vương vãi trên đồng khô sau khi gặt mà, do vậy thịt chuột đồng ngon là chuyện đương nhiên. Lại dễ làm, con chuột cầm cái đuôi quay một vòng thả xuống đất thì nó “tiêu diêu miền cực lạc”, xong vứt nó vào đống rơm đang cháy, thui đen, bốc nó như bốc vỏ khoai, vứt tay, chân, đầu, ngón trỏ đưa vào lấy bộ lòng vứt đi, nhớ đừng rửa nước, xong thái nhỏ vứt vào lon guigoz với ít mỡ heo, lon guigoz một loại lon nhôm đựng sữa bột được biến chế đục hai lỗ nhỏ xâu vào với sợi dây thép, lon guigoz treo trên đống than củi nóng lên, mùi thơm chuột đồng ngào ngạt với lá me nè, sả ớt nè… và nước mắm thơm ngào ngạt.

À quên! Bánh tráng mè đen nướng lên, thế là… xúc bánh tráng với thịt chuột đồng lai rai với rượu đế, ngồi bên mương nghe tiếng nước chảy róc rách, tôi nhậu với “đồng nghiệp” làm ruộng, nhìn đất trời bao la trong ánh nắng chan hoà, và chúng tôi ngồi dưới tàng cây trứng cá bên mương nước, thiệt tình mà nói, trong đời tôi, chưa có nhà hàng nào sang và “hoành tráng” cho bằng. Khi rượu làm chúng tôi chếnh choáng cầm đàn hát nghêu ngao từ tân nhạc qua đến vọng cổ với bè bạn, bằng hữu xóm làng chung quanh thì vui ơi là vui, hạnh phúc ơi là hạnh phúc!

Có những bài ca dân gian tếu như:

“Một thương bà cụ phi dê (uốn tóc)

hai thương cô gái nái xề đội mông

ba thương chị có đường cong

bốn thương em gái có vòng ngực to…

Rồi cả bọn con trai cười vang trong cái nguýt ngoáy của bọn con gái. Tôi học hát vọng cổ cũng từ nơi đây. Những điệu như “trăng thu dạ khúc”, “bình sa lạc nhạn” và còn nhiều nữa sáu câu vọng cổ quê nhà trong mưa… Sau này lúc đến Mỹ tôi đến nhà và nhậu với anh Hùng Cường lúc anh còn sống ở bang California, và khi ngà ngà, tôi đã hát vọng cổ với anh mà không sợ “múa rìu qua mắt thợ”. Anh Hùng Cường nghe tôi hát vọng cổ và ngạc nhiên tròn mắt bảo, nếu mà còn ở Việt Nam là anh sẽ đưa tôi vào đoàn cải lương Dạ Lý Hương liền, chắc là anh giỡn chơi thôi!

Ở xóm tôi có anh địa phương quân tên là Mai Cạch, nổi tiếng với tài bắt chuột, một lúc anh ta có thể bắt 5 con chuột từ trong hang chạy ra, nghe khó tin, nhưng chuyện thật, khi phá mấy cái hang trong bờ ruộng lúa, thì cả đàn chuột đồng bị động chạy ra. Mai Cạch dùng hai đầu gối chấn xuống hai con chuột dính kẹp dưới hai đầu gối, hai tay chụp hai con nữa là bốn, và còn lại cái trán anh đập xuống dính con chuột sau cùng là thứ năm. Nghe như chuyện kiếm hiệp phải không các bạn.

Ấy vậy mà nhờ tài bắt chuột mà mỗi khi Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu về quê thăm gia đình bố mẹ, là ông Đại Tá Tỉnh Trưởng Trần Văn Tự phải cho xe đón anh Mai Cạch vào để giao phó nhiệm vụ bắt chuột đồng cho Tổng Thống Thiệu. Nghe nói ông Nguyễn Văn Thiệu mỗi lần về quê ở Tri Thuỷ, Xã Phương Hải, Ninh Thuận là thích ăn chuột đồng, và ăn bánh căng…

Làng tôi làm ruộng ở sát bên làng của tổng thống Thiệu. Tôi đi ngang qua nhà thân mẫu ông Thiệu rất nhiều lần, ngôi nhà phong cách quê hương ở làng quê Việt Nam, nhà nhỏ như bao nhà khác, nhờ vào nông nghiệp, làm chài lưới, làm nghề muối, làm mắm mà dân làng Phương Cựu, Tri Thuỷ, Tân An đa phần nhà ngói đỏ tươm tất lắm. Nói chung lại, ai ai cũng có một cái nghề.

Nói đến cái bánh căng ở Phương Hải thì ngon tuyệt, phải ăn ở ngoài hè đường. Một cái gánh nhỏ, than đỏ cháy hồng với cái nồi đất chứa nhiều lõm, bột khuấy đều trắng phếu, đổ vào lõm khuông, chừng một phút là lấy ra, chan nước mắm ớt, vừa cay, vừa nóng, vừa thơm với hành lá xào mỡ. Bánh căng ăn nóng suýt soa, mỗi lần chén là tôi đánh ít nhất cũng hai chục cái mới đã cơn.

Thảo nào, Tổng Thống Thiệu ghiền cái món mà ông đã từng ăn ở quê nhà thuở thơ ấu của ông, và cho đến khi làm “vua” cũng ghiền mãi cái món quê hương thôn dã này mỗi khi ông về thăm lại quê xưa…

(Sẽ viết tiếp)

May be an image of 1 person and grass

All reactions:

4Lê Hải, Khoa Tran and 2 others

Trending

Discover more from Nhạc sĩ Châu Đình An

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading