(tiếp theo kỳ trước)
Châu Đình An
Mồ côi sớm, nên tôi thiếu thốn tình cảm và dạy dỗ của cha mẹ từ thuở bé, do vậy tôi chịu ảnh hưởng của những gì không thực tế, đó là bám víu vào những gì có thể khiến cho mình còn chút hy vọng trong cuộc sống, vì thế có lúc, tôi đã tìm đến tử vi bói toán, bói bài, bói chữ ký… nôm na là cái gì thuộc phạm trù vượt tầm hiểu biết của mình không thể hiểu, là tôi tin. Nghe thằng bạn bảo góc xóm Ninh Chử, Phan Rang, nơi đó có ông thầy mù thiên hạ gọi là thầy Nu, xem bói rất hay, nói cái gì trúng cái đó, tôi tò mò và quyết có một lúc nào đó đến nhờ thầy bói mù xem cho một quẻ về cuộc đời của mình để biết trước nó ra làm sao, có tốt không, có giàu có không và bao giờ hết bôn ba… lận đận.
Ngày đến gặp ông, tôi nhờ thằng Trịnh, là thằng em cùng xóm đèo tôi trên chiếc Honda đỗ xịch trước cổng nhà thầy Nu. Tôi lơ mơ nghĩ là… nếu ông ta mù thì làm sao mà thấy được diện mạo tôi, cũng như nhìn thấy quân bài, hay nhìn vào lòng chỉ tay tôi mà bói cho ra cái tương lai mình. Nghĩ thế thôi, tuy có một chút nghi ngờ, nhưng tôi rạo rực một nỗi tò mò và nôn nao muốn diện kiến thầy Nu để xem cớ sự “linh thiêng” đồn thổi về ông thầy mù này ra làm sao?
Một con bé khoảng 13 tuổi chạy ra mở cánh cửa cổng làm bằng các thanh tre. Thằng Trịnh và tôi xuống xe, nó dắt xe vào dựng một bên góc nhà nằm cạnh cái chậu kiểng có những nhánh cây rồng rắn uốn khúc trông cầu kỳ đẹp mắt. Con bé nhanh nhẹn dẫn chúng tôi vào sân đất khá lớn và có lối đi nhỏ lát gạch vào cửa nhà chính leo lên những bậc cấp xi măng xây khá cao. Bước vào trong gian nhà, tôi thấy ngay bàn thờ nằm chính giữa, trên bàn thờ có treo một vuông hình vẽ khuôn mặt của một vị thần nào đó, tay cầm thanh đao và hai con mắt lồi nhìn tôi đăm đăm như ngầm bảo, hãy tin vào sức mạnh của sự huyền nhiệm mà thần linh đã trao cho ông thầy Nu. Nhìn nó, trông giống như tranh vẽ của chuyện cổ tích. Dưới vuông hình đó là một lư bát nhang đang cháy dở vài cây nhang tỏa làn khói mỏng, và mùi hương của nhang thoang thoảng khiến cho tôi có cảm tưởng sắp diện kiến thần linh…
Trước bàn thờ, một chiếc bàn bằng gỗ “cẩm lai”, trên có mặt kiếng thủy tinh trông thật là đẹp. Bộ trà và mấy cái ly cũng thế, màu xanh dương theo kiểu Trung Quốc thời Vua Khang Hy. Ông thầy bói mù ngồi nơi đó, bận nguyên bộ bà ba trắng, và đeo kiếng đen. Ông trạc ngoài 60 tuổi và người thì gầy guộc. Hai bàn tay ông dài, và gân xanh nổi lên rất rõ khi ông đưa tay mời tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Con bé đưa chúng tôi vào rồi rót ra chiếc ly nhỏ đặt trước mặt tôi, rồi ông thầy Nu từ tốn nói: “Cậu uống trà cho đỡ khát”. Tôi lên tiếng chào ông, và cảm ơn là ông đã dành thì giờ để xem một quẻ bói cho tôi hôm nay. Nghe xong, ông bảo:
“Cậu qua ngồi cạnh tôi”.
Tôi ngoan ngoãn nghe lời ông, vừa ngồi xuống thì ông đưa hai cánh tay ôm đầu tôi. Ông thầy bói mù dùng những ngón tay của ông nắm hai trái tai tôi. Rồi ông nắn sọ tôi, thoa trên đầu, vuốt cằm, rồi áp cả bàn tay vào hai gò má tôi nghe nóng rực. Cuối cùng, ông dùng hai bàn tay ép vào hai bạnh xương quai hàm của tôi. Rồi tay cái của ông nhấn nhẹ vào hai chân mày trái phải của tôi. Thầm nghĩ. Quái, xem bói chứ có phải xem mạch đâu mà ông này lại làm như thế nhỉ?
“Số cậu phải bị ở tù!”
Nghe thầy phán, khuôn mặt tôi bỗng tái xanh và một thoáng lo âu ập đến. Chưa kịp hỏi thì ông bảo “Không những ở tù một lần, mà phải hai lần tù mới yên… nhưng, vì mạng lớn, nên không chết được, mặc dù đau khổ từ thể chất đến tâm hồn, nhưng cuối cùng sẽ bình yên”.
Tôi hỏi ông: “vì sao bị tù vậy thầy?”. Ông bảo “có những điều không giải thích được, chẳng hạn nó như tai nạn xảy ra. Tù tội cũng thế, có khi không phải do mình gây nên, nhưng số bị tù thì phải ở tù!”.
Mẹ ơi, ông bà ơi! Con có làm sao mà phải bị tù, mà lại 2 lần tù thì nghĩa là sao vậy ta?
Tôi lại hỏi ông thầy bói mù: “Thưa thầy, nếu tù như thế thì còn tương lai của con ra sao?”. Ông trầm ngâm giây lát và bảo: “sau khi đi tù ra thì tương lai cậu sẽ rất nổi tiếng, và nổi tiếng tuy chậm, nhưng chắc chắn, bởi vì cậu là người có thực tài, nhưng khó gặp thời, vì thế thuộc dạng hoa nở chậm”. Chưa hết ông thầy bói mù còn bảo: “Cậu chơi bạn thì chơi với những người lớn tuổi hơn cậu, thì họ sẽ thương quý và giúp đỡ. Còn chơi với người nhỏ tuổi hơn cậu, thì chỉ giao tiếp thôi, chớ kết thân và móc hết gan ruột cho họ, vì họ sẽ luôn chơi xấu và ganh ghét cậu”.
Bạn có tin được không? Nếu bạn ở vào hoàn cảnh tôi khi ngồi nghe một người đàn ông xa lạ, mắt mù không thấy, chỉ dùng tay nắn sọ, nắn cằm, nắn tai… mà phán ra những điều gây hoang mang trong tôi. Thoáng hối hận dâng lên, phải chi đừng đi nghe những điều thầy Nu phán như thế này, thì mình đỡ phải lo âu. Nhưng tôi hỏi tiếp: “Thưa thầy, còn tình duyên thì sao ạ?”.
Ông thầy bói mù chậm rãi nâng tách trà chiêu một ngụm rồi thong thả đặt ly xuống bàn. Ông ngửa mặt nhìn trên góc nhà: “số đào hoa, cho dù ở tù cũng có người đàn bà theo đuổi và thương trong tù. Tuy nhiên, phải cẩn thận vì đàn bà, có người sẽ giúp cậu thành công, nhưng cũng có người làm cho cậu thân bại, danh liệt”.
Ông bà nội ơi! Nghe thầy phán tôi ngạc nhiên, làm sao trong tù mà có người đàn bà nào thương mình vậy ta? Thế nhưng tôi không hỏi mà ngồi yên lặng nghe thầy Nu phán tiếp. Ông bảo: “số này phải hai vợ mới êm, vợ mà đẹp quá và gầy ốm thì ở không bền, phải mập mạp có da có thịt thì ở mới bền”. Rồi thầy kết: “số cậu ít con, chỉ có hai đứa thôi. Nếu có hơn nữa là con rơi, con rớt!”.
Mèn ơi! Thầy nói nghe huề vốn. Tôi thắp cây nhang cảm tạ thần linh trước bàn thờ nhà thầy xong rồi cáo từ. Thằng Trịnh giúp tôi đặt tiền trên chiếc dĩa sành nhỏ. Thầy bảo: “Đức năng thắng số, ăn ở phước đức sẽ giảm bớt các gánh nặng của cuộc đời”. Câu này hình như ông bà bói nào cũng phán cho mình nghe là thế.
Ngồi sau yên xe thằng Trịnh phóng nhanh ra khỏi con đường nhỏ, lòng tôi hoang mang khi nghĩ đến số mình bị ở tù, mà phải là hai lần tù. Sao vậy ta, mình có bao giờ dám trộm cắp, dám đánh ai, dám hại ai đâu? Thì làm sao mà đi tù được. Chắc là nói thế thôi, tuy nhiên, đã không biết thì thôi, biết thì phải gìn giữ lời ăn tiếng nói từ bây giờ. Tôi nhủ lòng như thế và chợt đâu đó cảm thấy một nỗi buồn hoang mang xâm chiếm tâm hồn mình.
Năm 18 tuổi là năm bắt đầu thi hành quân dịch. Nếu bạn không đỗ tú tài phần một, thì bước vào quân trường Quang Trung với 3 tháng quân trường, còn nếu đỗ tú tài phần 1, học tiếp đỗ tú tài 2 thì đi sĩ quan Đà Lạt. Nếu rớt tú tài 2 thì đi học sĩ quan Thủ Đức. Vì vậy khi câu thơ Nguyễn Tất Nhiên qua nét nhạc Phạm Duy được ca sĩ Duy Quang hát vang qua Radio:
“thi hỏng mất rồi, ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi, ta đợi ngày đi”
Đó là đi lính. Đó là chuẩn bị ra chiến trường trước hòn tên mũi đạn. Đó là ra đi không thể hẹn ngày trở lại.
Nó như định mệnh sắp xếp cái nguyên tắc bất di bất dịch trong thời chiến của Việt Nam. Nhưng, số tôi lại được tấm giấy miễn dịch vì lý do “con trai độc nhất của gia đình”. Tấm giấy này đáng giá lắm, bởi vì nó bảo tồn sinh mạng của tuổi mới lớn trong thời chiến. Ông Bác tôi lúc bấy giờ làm Phó Quận Trưởng quận Nam Cam Ranh, đã hiểu luật nên giúp tôi làm các thủ tục, ngày ông gọi tôi đến nhà và đưa cho tôi tấm giấy miễn dịch của Nha Động Viên và bảo: “Mi trúng số độc đắc”. Tôi lí nhí cảm ơn bác tôi và thầm nghĩ, có gì đâu mà bác lại nói thế, giả như nếu có đi lính thì tôi cũng sẽ đi chứ có ngại ngùng hay sợ sệt gì đâu, nhưng bây giờ nghĩ lại, lòng tôi cảm ơn bác Châu Đình Hoàng của tôi đã thương giúp cho thằng cháu còn được sống đến hôm nay, bởi vì, cuộc chiến trên đất nước mình thời điểm này rất khốc liệt, tôi đã chứng kiến mỗi ngày xe quân xa GMC chở quan tài phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ chạy chầm chậm trong xóm Song Mỹ để tìm thân nhân giao lại xác thân của tuổi 18 vừa ra chiến trường đã ngả gục!
Thời điểm này, ca khúc Ngủ Đi Con của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mỗi lần nghe khiến lòng tôi một nỗi bàng hoàng:
“hai mươi năm, đàn con đi lính. Đi rồi không về, đứa con da vàng của Mẹ. Ngủ đi con”.
Hàng triệu thanh niên Việt Nam hai miền Nam Bắc nước mình, đã ngủ yên không bao giờ thức dậy từ tuổi đôi mươi.
Lúc này, tâm hồn tôi cảm xúc dạt dào và rung động trước các bản tin, nghe một ca khúc phản chiến và tôi cũng đã viết nên ca khúc Lời Mẹ Ru, tôi viết nó, khi nhìn thấy những gia đình hàng xóm bên cạnh gào khóc nức nở khi người mẹ nhận xác con từ chiếc quân xa GMC. Chiếc quan tài phủ màu cờ vàng ba sọc đỏ đặt trước sân nhà. Tiếng khóc xé lòng và mùi nhang bay ngào ngạt mờ nhạt vành tang trắng. Tôi nhớ lại cảnh này khiến lòng tôi quặn đau và một nỗi buồn không kể hết được. Tôi đã nghẹn ngào ghi xuống:
“khi xưa mẹ ngồi khóc thầm, cho con xác thân ngàn nơi”.
Tuổi trẻ tôi đã chứng kiến biệt ly của biết bao sinh mệnh tuổi đôi mươi. Ngủ đi con và con ngủ giấc nghìn thu. Xóm nghèo Song Mỹ, đã nghèo lại còn mang thêm nỗi buồn đứt ruột khi càng ngày, tôi nhìn thấy những thằng bạn của tôi, lần lượt ra đi, và đi không trở về!
Tôi nghĩ đến câu thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện:
“chốn thôn trang vắng bóng trai làng
cầy bừa toàn phụ nữ đảm đang
giấy báo tử rơi đầy mái rạ
buồn tất cả, ôi buồn tất cả…”
Chiến tranh tàn khốc của đất nước tôi thật là kinh khủng, cướp đi bao nhiêu sinh mệnh của cả một thế hệ từ hai miền Nam Bắc. Điều này, sự kiện này, những đau buồn xé nát ruột gan đã ảnh hưởng và hằn sâu trong tâm khảm tôi. Từ đó, tôi đã tìm hiểu, suy tư, và khám phá là, cuối cùng, tôi đã già trước tuổi trong suy nghĩ cũng như suy tưởng.
…..
Tôi bị tống vào Conex, là loại thùng sắt chứa hàng của quân đội Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Thùng sắt này nhốt tạm giam khoảng 12 tên, nóng ngột ngạt dưới ánh mặt trời thiêu đốt của miền Phan Rang khô cằn đất nằm phơi lên sỏi đá. Một tuần sau, tôi bị tống lên quân xa chuyển ra quân lao Nha Trang. Ở đó được chừng một tháng thì tôi ra tòa án quân sự mặt trận vùng 2 chiến thuật. Ngày ra tòa, xếp hàng dài, mỗi thanh niên bị bắt, khi đến lượt mình thì viên chánh án quân đội ngồi trên cao uy quyền hỏi: “bị can có nhận tội đào ngũ không?”. Tôi cũng bị viên chánh án mà tôi còn nhớ tên là Trung Tá Trần Nguyên Hãn, ông ta gõ chiếc búa xuống và tôi bị dẫn đi về lại quân lao Nha Trang.
Bây giờ tôi mới nhớ lời thầy bói mù nói thật là đúng phóc.
Trong tù quân lao Nha Trang, lúc mới vào tôi bị tù cũ ăn hiếp, bị đánh đập gọi là đánh dằn mặt. Nhưng chỉ vài đêm sau, khi tôi tham gia vào văn nghệ bỏ túi trong góc nhà tù, cầm đàn và hát thì tôi lọt vào mắt của ông trùm giang hồ Nha Trang thời bấy giờ. Đó là anh Sáu Tới. Anh cũng ở tù chung với chúng tôi. “Giang sơn” của anh tọa lạc trên một sàn cao là cái bệ xi măng chiếm cứ một góc phòng. Đàn em của anh đông đúc cũng nằm tù vây quanh. Anh có đôi mắt sâu nằm dưới cặp chân mày rậm và cái đầu hói thưa tóc. Tôi quan sát Trùm du đãng khét tiếng để xem diện mạo có gì đặc biệt ghê gớm như lời thiên hạ đồn thổi không. Không. Chỉ là một người đàn ông bình thường, anh ta chỉ có mỗi câu nói là văng tục là đụ má lia lịa. Cái này khiến tôi cảm tưởng ngôn ngữ bình thường của dân giang hồ Việt Nam thời xưa là thế.
Anh Sáu Tới chỉ định cho tôi một chỗ nằm sát anh, thế là tôi được “ưu đãi” thoát chỗ nằm cạnh cái cầu tiêu hôi thối mà bọn tù cứ đái ỉa ào ào không dứt cả ngày lẫn đêm. Mỗi ngày, tôi lang thang ra chiếc sân nhỏ trước nhà tù, một khoảng nhỏ có cái am và tượng Đức Phật cùng với Phật Bà Quan Âm. Kế bên là cái nhà nhỏ có cây thánh giá trên nóc. Như thế tôi ngầm hiểu là ai tin vào tôn giáo nào, thì ra đây cầu nguyện. Mà tôi thấy tù nhân cầu nguyện nhiều lắm. Thế mới hiểu khi gian nan, khi tuyệt vọng, con người lại nhích gần và bám víu vào niềm tin của mỗi tín ngưỡng mà mình tin.
Ở tù, tôi học được nhiều câu chuyện và nhìn thấy rõ được bản chất thật của những tay giang hồ gạo cội. Những tay du thủ du thực, ăn nói cộc cằn và không có văn hóa, hay nói rõ là thiếu học và không hề quan tâm đến kiến thức. Nhưng, tôi học nơi họ rất nhiều thứ giá trị. Đó là các sự thật và bản chất sự thật cuộc đời họ qua cuộc sống mà đám giang hồ này kể cho tôi nghe. Không những thế, qua cách hành xử, tôi thấy sự phơi bày, thích thì nói, không che đậy, không xảo trá, không bề ngoài, không thủ thuật, không dùng một nửa sự thật để biến thành một câu chuyện sự thật, và dùng mánh khóe này để lòe thiên hạ, lừa bịp bà con. Nơi họ, tôi thấy sự kỷ luật tuyệt đối, đó là đàn em phục tùng đàn anh, và dám hi sinh mạng sống mình cho đàn anh, nếu cần.
Tôi đã thấy đám đàn em Sáu Tới đến thăm nuôi anh ta thường xuyên. Có đàn em cũng tên tuổi là Mùi lai, đến thăm nuôi trong lúc bên hông phải còn mới mổ vì bị bắn lòi ruột trong một pha “thanh toán băng đảng” nào đó ở Nha Trang. Đám giang hồ trong tù tuy cảnh cá chậu chim lồng, nhưng không thiếu một thứ gì. Kể cả Cocain, mà tôi thấy chúng nó hít vào mũi mỗi tối sau bữa ăn. Cứ ăn xong là hít, hết hít thì đi tập tạ, tập tạ xong thì tắm. Tắm xong thì tụ lại nhậu và đàn hát văn nghệ. Tôi hiểu họ cũng biết ngày nào còn sống được với nhau thì cứ sống, bởi vì mai mốt đây. Một chiếc xe bít bùng quân xa sẽ de đít xe vào, và họ sẽ bước lên xe ra chiến trường phục dịch với hàng chữ trên áo: “lao công đào binh”. Thế là tàn đời!
Tôi nghĩ đến đời tôi cũng sẽ tàn đời tơi tả. Nhưng…
Ngày 2 tháng 4 năm 1975. Bữa cơm trưa thường lệ không đúng giờ, bọn tù chúng tôi chờ đến gần 2 giờ trưa mà cũng chẳng thấy ai giao cơm, mỗi ngày, đó là chiếc xe chở cơm de cái đít xe vào hai cánh cửa lớn, và bọn tù xếp hàng lãnh phần ăn mỗi người. Nhưng hôm nay có điều gì khác thường. Vậy là có chuyện rồi, tôi thấy anh Sáu Tới tròn mắt, nét mặt căng thẳng đang áp tai vào chiếc Radio nhỏ nghe tin tức, rồi anh chạy ra cửa cùng với đám đàn em, anh bảo: “Đụ má phá cửa nhanh lên, tụi nó chạy hết rồi”. Đám đàn em nghe lệnh anh, bê nguyên thanh cài cửa và dùng sức phá cánh cổng tù. Toang cửa và chúng tôi như ong vỡ tổ túa ra.
Bên ngoài khu vực quân lao không một bóng người. Vắng tanh… nhưng lại bừng lên và nhộn nhịp khi đám tù ào ạt chạy ra. Tôi chạy theo họ đến cổng chính của quân lao, có 3 cửa ra vào. Cổng chính và hai cửa phụ bên trái và phải có hai lô cốt, là hai cái chốt mà lúc nào cũng có lính cầm súng canh giữ kiểm soát ra vào. Hai lô cốt vắng bóng lính gác. Họ đã bỏ đi đâu hết. Tôi nghe loáng thoáng bọn tù vừa chạy vừa bảo: “đụ má nhanh lên. Bọn VC sắp vào rồi”. Tôi theo đám tù, chạy ra khỏi cánh cổng và thành phố như bãi tha ma, người dân đi đâu hết rồi? Rác bay tua tủa và rác vương vãi trên đường phố. Bọn tù nhặt súng M16 vứt trên mặt đường, và thằng bạn tù tên Giang nhặt một khẩu đưa cho tôi, nó chỉa cây M16 lên trời và bắn một tràng, mấy thằng tù khác thấy thế cũng đồng loạt nổ súng tạo nên một khung cảnh hỗn độ và mầm bạo lực chuẩn bị nổ tung. Thằng Giang nhập bọn với đám kia và bảo tôi: “mày có đi với tao không?”. “đi đâu?”. Nó đáp: “đi cướp”.
Tôi lắc đầu và giã từ nó. Một chiếc Lambretta trờ đến, tôi nhảy lên phía sau và đu theo. Vai tôi quàng khẩu súng M16 và tôi còn nhặt thêm một dây băng đạn quấn quanh người. Xe chạy ra khỏi thành phố và đến đầu ngõ vào thành phố thì không thể đi được nữa. Một cảnh tượng kẹt xe dài với hàng đoàn xe tải cũng như xe đò từ Huế và Đà Nẵng chạy vào. Trên xe nào cũng có người đứng ngồi đầy như nêm cối. Tôi tìm cách chen người vào xe nhưng không còn chỗ. Không thể đứng nơi đây chờ phép mầu xảy ra, tôi đi bộ và khoảng gần một tiếng đồng hồ, tôi đã đứng ngay quốc lộ 1 ngay Thành, là một thị trấn nhỏ trước khi vào Nha Trang.
Quốc lộ 1, xe chạy thông, và hàng trăm chiếc chở người di tản từ ngoài Huế chạy vào. Tôi đưa tay đón, và không một chiếc nào ngừng lại. Cuối cùng, tôi đã đứng giữa đường chỉa cây súng M16 vào một chiếc xe đò buộc tài xế dừng lại. Cuối cùng, giữa khung cảnh hỗn loạn, bạo lực của kẻ có súng đã cho tôi một chỗ đứng trong chiếc xe đò từ thị trấn Thành đến Phan Rang. Lúc ngang ngã tư Phan Rang, tôi nhảy xuống khi xe chạy chầm chậm. Vai tôi hãy còn mang cây M16 và một dây băng đạn còn quấn ngang lưng.
Nhiều chiếc Honda của người dân chạy vèo di tản ngang tôi, ai cũng ngoáy đầu nhìn tôi vì trông như một tên thảo khấu trong rừng vừa ra thành phố. Mà quả là như vậy. Tôi đen đúa, dơ bẩn, nhếch nhác. Chân đi dép, quần áo xốc xếch, vai quàng súng, lưng băng đạn, nhìn trông như một tên cướp khiến ai cũng sợ trong lúc cảnh tượng hoảng sợ, vì lúc này, bộ đội miền Bắc đã tràn vào Nha Trang ngày 2 tháng 4 năm 1975. Họ đã chiếm Nha Trang và các lực lượng “giải phóng” đang ào ạt tràn xuống từ Ban Mê Thuột và qua đèo Sông Pha để chiếm lĩnh thị xã Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận.
Tôi là ai? Mà vai mang súng. Lưng mang đạn? Đang khi tất cả mọi người ồ ạt di tản theo đoàn xe chạy vào hướng Saigon… duy chỉ có tôi đứng bên đường đón xe chạy ngược về hướng chân đèo Sông Pha.
Tôi không có sự chọn lựa. Chỉ có một nơi duy nhất để về. Đó là thôn Song Mỹ.
(xem tiếp kì sau)

All reactions:
2Huỳnh Hoà and Nguyễn Đức Thảo
