(tiếp theo kỳ trước)

Châu Đình An

Lúc này, có vài chiếc máy bay phản lực vụt qua Phan Rang với tiếng rít gầm của động cơ trên bầu trời và một vài cụm khói đen bốc lên sau tiếng nổ ầm vang. Máy bay ném bom ở rặng núi thật xa phía bắc của thị xã Phan Rang. Rặng núi chạy dài bao quanh các cánh đồng và thoai thoải dần khi đụng bờ biển Vĩnh Hy. Nghe bảo là nơi đó mật khu Đồng Bò, là căn cứ của các du kích hoạt động từ bao năm qua.

Rồi từng đoàn quân xa nối đuôi nhau chạy dài từ con lộ bắt nguồn chân đèo Sông Pha đến ngã ba Phan Rang thì rẽ tay phải về hướng Saigon. Tôi đứng đợi xe chạy về hướng đèo Sông Pha, và thầm mong một phép lạ, đó là sẽ có chuyến xe đi về Sông Pha lúc này. Chắc là không, vì tất cả mọi người, từ dân sự cho đến quân sự, đang hối hả di tản qua những chuyến xe đò chật cứng, qua những đoàn quân xa chở các sinh viên sĩ quan Đà Lạt, họ đang hối hả di tản ra khỏi vùng nguy hiểm, bởi vì lúc này quân đội miền Bắc đang bao vây Cao Nguyên sau khi họ đã tấn công và Ban Mê Thuột thất thủ! Ai có phương tiện gì thì dùng phương tiện đó để mong thoát ra vùng chiến tranh sắp xảy ra.

Những chiếc xe kéo bởi các con bò, con trâu, và phía sau là soong nồi treo lủng lẳng, gồng gánh kêu leng keng, rồi trẻ con, người già ngồi nghiêng ngả theo con đường gập ghềnh, và trên nét mặt nỗi lo âu của họ hiện rõ. Người ta cứ chạy, và không biết họ đi đâu?

Trời đã chiều dần và sắp tối rồi, chỉ có xe đi xuống mà không có chiếc nào chạy lên. Tôi bắt đầu tuyệt vọng và nghĩ đến đi bộ về làng Song Mỹ. Nhưng xa lắm, phải đi ngang một đoạn đường dài khoảng 30 cây số mới đến ngang làng trồng thuốc lá Phước Thiện, Phước Mỹ, rồi đi một đoạn dài mới đến khu Quảng Thuận, khu Ninh Bình rồi mới đến làng Song Mỹ. Không cách nào đi được trong lúc này, bụng đói và khát nước quá. Từ lúc vượt ra khỏi khu vực quân lao Nha Trang cho đến bây giờ chưa ăn uống gì. Tôi loay hoay tính dợm chân bước đi vào thị xã mong tìm chút gì lót bụng, thì có ánh đèn xe vàng vọt từ xa chạy tới.

Tay trái đưa tay đón xe. Tay phải tôi cầm cây súng M16. Chiếc xe Honda SS 50 dừng lại. Tôi lên tiếng xin được quá qiang về Song Mỹ nếu xe chạy về đó. Một người đàn ông trạc tuổi 50, mang kính cận thị gọng đen và đội chiếc mũ vải lụp xụp ngước nhìn tôi gật đầu. Tôi reo lên “có phải chú Nhị không?”. Ông ta trả lời: “sao lại biết tôi?”. “Thưa chú, cháu là An đây, cháu ông Dinh”.

Thật là phép lạ trong lúc này, đó là ông Nguyễn Đức Nhị, Trưởng Ấp Song Mỹ mà tôi biết khi mới định cư Khẩn Hoang Lập Ấp theo chương trình của ông Quốc Vụ Khanh Phan Quang Đán. Chú Nhị tay cầm lái, tôi thấy sau lưng chú còn có một người phụ nữ, đang thoáng ngần ngại không biết phải ngồi làm sao thì chú bảo, đó là “sơ” dòng Mến Thánh Giá đang giúp cho họ đạo Song Mỹ và đang trên đường trở về lại thôn làng. Thế là tôi ngồi giữa, tay ôm hông chú Nhị, ma sơ ngồi sau, tay bà ôm hông tôi. Ba người, ba thế hệ, ba hoàn cảnh tình cờ ngồi trên một chiếc xe hai bánh chạy trong đêm chạng vạng từ ngã ba Phan Rang về thôn Song Mỹ.

Không ai nói với ai lời nào trong hoàn cảnh nguy khốn như lúc này, tất cả im lặng và chỉ có tiếng máy nổ đều đều của chiếc xe hai bánh Honda đang đèo 3 người chạy trong đêm căng thẳng của chiến tranh về một thôn làng mà nơi ấy, người ta đã bỏ đi hết mấy ngày trước, cũng như các đoàn xe di tản từ cao nguyên chạy xuống đèo ngoạn mục đổ về Phan Rang và theo con lộ 1 về thủ đô Saigon mong được bình yên.

Tôi không biết mấy giờ, nhưng chắc là đã gần khuya thì đến Song Mỹ. Chú Nguyễn Đức Nhị thả tôi xuống lề đường, và tôi cúi đầu cảm ơn chú thật nhiều. (Viết đến đây nếu chú Nhị còn sống thì cho cháu cảm tạ chú). Tôi lết chân đến căn nhà xưa. Căn nhà mà tôi đã bỏ đi khoảng 3 năm phiêu bạt. Hàng rào xiêu vẹo, ngõ vào nhà hoang vắng vì không còn ai. Một con chó đánh hơi người sủa vang, nhưng khi nhận ra tôi, người chủ cũ của nó thì nó rít lên nghe thống thiết và đuôi vẫy mừng rỡ. Tôi cất cây súng và băng đạn vào góc nhà tối om, ngồi bệt trước bực thềm nhà thở một hơi dài rồi nằm xuống nhắm mắt. Một cảm giác an bình lan toả với khung cảnh và không gian im lặng như tờ.

Lát sau, tôi bật dậy lò mò ra bếp tìm cái gì ăn. Bếp nguội lạnh. Không có gì, chỉ còn lu gạo vơi và một chai nước mắm, vài con cá khô treo trên giá bếp. Quá đủ, và tôi múc gàu nước dưới giếng vo gạo nấu cơm, chụm củi nướng một con cá khô. Tôi ngắt những ngọn rau khoai lang trên các vòm khoai đầy một rổ. Vậy là bữa cơm tối tuyệt vời gạo trắng, cá khô nướng và ngọn rau lang luộc chấm mắm. Chưa có bữa cơm nào tuy cô độc, nhưng ngon nhất đời mà tôi còn nhớ mãi.

Đang ăn, thì có ánh đèn pin trước ngõ và lao xao tiếng chân người. Tôi đứng dậy nhìn ra, thì thấy lố nhố một toán người bước vào. Một người đàn ông đầu đội mũ vải loại nón tai bèo, vai đeo một túi xách, và bên hông có một khẩu súng ngắn. Theo sau ông ta là những người trông lạ với quần đùi, áo sơ mi ni lon bạc màu, đầu không đội mũ và nhìn họ trông thật nhếch nhác, da họ đen đúa và trên tay ai cũng lăm lăm khẩu súng trường AK 47.

Tôi ngạc nhiên và thoáng lo âu khi thấy họ xuất hiện trong khuôn viên căn nhà nhỏ của mình. Ánh đèn pin quét lên mặt tôi khiến mắt tôi loé ra và không thấy gì ngoài một vùng sáng, và cứ thế ánh đèn pin dừng lại trên khuôn mặt tôi. Rồi một giọng nói đặc sệt giọng Quảng Ngãi: “Úi trời. Thằng Eng, mi về khi mô rứa”. Tôi chưa biết người đàn ông vừa nói là ai, thì ánh đèn pin hạ xuống, nhưng hai mắt tôi bị loé và không còn nhìn thấy rõ, một lát thì ông ta lại nói tiếp: “mi không nhận ra tao hở?”.

Nhưng rồi khi bình tâm lại, tôi nhìn thấy người đàn ông đó. Tôi reo lên: “A! chú Tô”. Đúng vậy. Đó là ông Nguyễn Quang Tô, người đàn ông trung niên có khuôn mặt với hai má cóp lại làn da đen sạm và bên cằm trái có một cái mụt ruồi đen khá to, trên mụt ruồi là một hai sợi lông mọc dài cong xuống quá cái cằm của ông.

Ông Tô này là du kích nằm vùng. Sở dĩ tôi biết, là vì ông bị an ninh quân đội của xã và quận bắt rồi thả, thả rồi bắt mấy bận. Nhưng vì không có bằng cớ xác thực, và có lẽ an ninh thôn Song Mỹ muốn làm thế để theo dõi bắt trọn ổ và cấp chỉ huy của ông ta hay chăng? Tôi gặp ông Tô nhiều bận mỗi khi đi làm rẫy. Mỗi sáng xắn quần lội nước băng qua con sông Ông, vừa lên bờ đi một đoạn là thể nào tôi cũng thấy ông. Miếng rẫy ông canh tác khoai mì và trồng bắp cũng gần miếng rẫy của tôi. Ông dựng một cái chòi dưới tàng cây mằng lăng rợp bóng.

Tôi luôn lễ phép chào ông và thỉnh thoảng tặng ông gói thuốc Capstan là thứ thuốc ông thích. Có khi tôi đưa ông mấy điếu Salem hay Pallmall là thứ thuốc lá của “đế quốc Mỹ” mà ông rất thích. Bù lại, ông hay cho tôi những củ khoai mì luộc, có pha trộn các sợi dừa bào mỏng và đậu phụng rang, tán nhuyễn trộn với muối, ăn nó uống nước trà vối là tuyệt vời. Tôi nhớ dáng ông gầy guộc và cái lưng khòm vì trông dáng ông mảnh khảnh, ông hay bận chiếc quần dài màu xám ni lông và xắn ống mỗi khi đi làm rẫy. Ông ngủ lại ngoài chòi và ít khi về nhà. Vì thế ông Tô luôn bị an ninh theo dõi, vì họ tình nghi ông là cán bộ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được cài vào khu khẩn hoang lập ấp Song Mỹ, Ninh Bình.

Ông biết tôi bị bắt và đi tù, rồi bây giờ tôi lù lù xuất hiện bằng xương thịt trong đêm tối tại căn nhà cũ của gia đình bác tôi. Ông lên tiếng: “Tau tưởng mi chết mất xác rồi chứ. Sao mà mi còn sống được hỉ?”. Tôi tóm tắt sự việc và kể cho ông nghe. Ông Tô nghe xong thì bảo: “Mi thu xếp theo tao”. Tôi hỏi: “Đi đâu vậy chú”. Ông đáp gọn: “Đến trụ sở uỷ ban nhân dân cách mạng”.

Tôi buộc phải xỏ chân vào dép và đi theo lời đề nghị của ông Tô. Thoáng nghĩ là, tôi không muốn ông và cả đám vào nhà sẽ phát hiện tôi có khẩu súng và băng đạn thì lại lôi thôi trong lúc này. Tôi sánh vai đi cùng ông và theo sau là đám người trong như quân thổ phỉ, ông Tô bảo đây là những cán bộ du kích người dân tộc (mình gọi là người Thượng) nằm vùng hoạt động cách mạng, bây giờ họ đến tiếp thu thôn Song Mỹ.

Đến trụ sở, là trụ sở cũ của Thôn Song Mỹ, cột cờ cao trước đây với lá cờ vàng ba sọc đỏ, bây giờ được thay thế bằng lá cờ nửa xanh, nửa đỏ và một ngôi sao vàng nằm chính giữa bay phần phật trong gió ban đêm. Ánh đèn mờ trong vài căn phòng loé ánh sáng vàng nhạt. Trước cổng trụ sở và các du kích người Thượng tay lăm lăm súng AK đứng gác. Người ta đứng ngồi lố nhố trên các lối đi nhỏ. Ông Tô dẫn tôi vào căn phòng khá lớn. Chiếc bàn giấy ở giữa, tôi thấy trên vách sau lưng bàn giấy là một chân dung của ông chủ tịch Hồ Chí Minh treo trang trọng nơi đấy. Phía dưới có một khung vải màu đỏ thẩm với hàng chữ vàng “không có gì quí hơn độc lập tự do”.

Ông Tô bước vào ra vẻ oai nghiêm xong ngồi trên chiếc ghế nơi bàn giấy. Tôi còn nhớ có bảng nhỏ ghi “đồng chí Nguyễn Quang Tô, chủ tịch uỷ ban quân quản thôn Song Mỹ”. Và tôi hiểu ông Tô là một đảng viên du kích nằm vùng bây giờ là chủ tịch của Song Mỹ. Tự dưng một cảm giác vừa lo, vừa buồn ập đến trong tôi. Lo là không biết mình sẽ ra sao trong một thôn Song Mỹ hoàn toàn được “giải phóng”. Buồn là từ đây mình đã mất đi những gì kỷ niệm của một thời lớn lên, hay rõ hơn là tuổi thanh xuân của mình trong một chế độ VNCH tuy chiến tranh, tuy có bất công, có thối nát vì tham nhũng, nhưng không khí tự do làm ăn, tự do phát biểu, và đó là những gì tôi hiểu lờ mờ khi ấy, là những gì thuộc về kỷ niệm đẹp xem như kể từ nay đã chết!

Đang nghĩ như thế, thì ông Tô bảo tôi: “Mi bị bọn nguỵ nó bắt, nó đoạ đày, nó giam cầm và mi cầm chắc là chết rồi. Nhưng mi nhờ cách mạng giải phóng mà mi còn sống về đây. Dzì dzậy hãy tỏ lòng cảm ơn Bác và Đảng cùng cách mạng giải phóng đã cứu sống mi”. Nói xong ông Tô nhìn tôi, hai con mắt lồi của ông lừ đừ vì thiếu ngủ, tôi tránh cái ánh mắt như cá ươn sắp chết của ông Tô.

Sau khi nói xong ông chờ đợi tôi có một sự trả lời hay bày tỏ điều gì. Nhưng, tôi không biết phải nói ra làm sao. Bởi vì tôi tự nghĩ, mỗi một cuộc đời có một số mệnh. Mỗi một con sông có giòng chảy quanh co chia nhiều nhánh. Có nhánh sông cùng đường và đứng lại. Có nhánh sông êm xuôi đổ ra biển lớn. Nhánh sông định mệnh của tôi chỉ trong vòng hơn 6 tháng qua mà bao biến động và thay đổi nhanh chóng. Từ một thanh niên đang lớn tràn đầy sức sống và ước mơ, tôi bị ném vào một hỏa ngục giam cầm, bị đọa đày, bị chà đạp và bị khủng bố bởi sợi dây thòng lọng treo trước mặt. Thế rồi, đoạn đường gian khó đang thay đổi đột ngột đã cho tôi tự thoát ra khỏi trại giam mà không bị một phát súng kết liễu như vượt ngục. Bây giờ, chỉ trong một ngày và một đêm, tôi đang đứng trước một cảnh tượng rất lạ lùng trong cuộc đời mình. Đó là tôi đang ở trong một trụ sở của thôn Song Mỹ đã giải phóng, và đang tiếp cận với một ông chủ tịch ủy ban cách mạng đầy quyền uy Nguyễn Quang Tô.

Nhớ những lần tôi và ông gặp nhau ngoài bìa rừng bên kia con sông Ông, tôi châm điếu thuốc Capstan cho ông hít vào làn khói thơm lừng. Ông cười vui và cảm ơn xong, dúi vào tay tôi một bao đậu lạc vừa luộc còn nóng. Ông là người xin giấy đi làm rẫy và ngủ lại đêm ở chòi mình. Luật của Ấp Song Mỹ là bất cứ ai khi canh tác, nếu muốn ngủ lại ngoài chòi rừng trên 3 đêm là phải làm đơn xin phép và có lý do như canh nước, như ủ giống, như bận đốn củi về không kịp. Các cơ quan an ninh của quận Sông Pha và Xã Ninh Hải, Thôn Song Mỹ biết rằng, đã có những du kích nằm vùng trà trộn theo đoàn người di tản vào khu khẩn hoang lập Ấp này. Nhất là các vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, mà người ta cho là “liên khu 5” của các quân du kích thuộc tổ chức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Chính quyền VNCH cũng bắt được một số các du kích nằm vùng và khai thác họ, để biết còn những du kích nằm vùng nào. Và ông Tô là đối tượng bị theo dõi.

Có lẽ, tôi cũng bị theo dõi vì là người thường xuyên trò chuyện với ông Tô. Tôi nhớ có những lần vào chòi ông ăn cơm trưa do ông nấu. Bữa cơm nhà quê với cá trắng đánh bắt dưới sông và nước mắm dầm ớt trồng trong rẫy của ông Tô cay xé lưỡi. Vậy mà ngon lắm, và còn hớp vài cốc rượu đế với ông nữa. Không chuyện gì ở khu vực thôn, xã mà ông Tô không biết. Kể cả tôi bị bắt và tống giam ở Nha Trang ông cũng biết rốt ráo. Bây giờ ông khơi động lại những ngày tháng lao đao của tôi và được bình yên về lại Song Mỹ đứng nơi đây, để nhắc nhở tôi phải có sự biết ơn cách mạng giải phóng.

Thấy tôi im lặng. Ông bảo: “Mi nhận nhiệm vụ dạy văn hóa lớp bình dân cho tao. Các đồng chí người dân tộc vì bận chiến đấu nên không có giờ học văn hóa”. Ông Tô nói như ra lệnh cho tôi mà không đợi tôi có đồng ý hay không. Nói xong, ông đứng dậy dẫn tôi qua một căn phòng khác và giới thiệu với một người đàn ông đầu tóc bạc trắng, đang đứng khom người chống tay trên một chiếc bàn dài, và có một tấm bản đồ trải rộng. Chúng quanh ông là những bộ đội du kích có người đồng phục, có người ăn bận theo kiểu đi hái củi, làm ruộng, và trên cổ họ ai cũng có một chiếc khăn rằn ca rô đen trắng theo kiểu miền Tây Nam Bộ.

“Báo cáo đồng chí thủ trưởng. Đây là cậu An, một người dân ở đây và là cảm tình viên của tôi, mới từ lao ngục Nha Trang về lại và tôi đề nghị cậu ta đảm trách lớp văn hóa cho các đồng chí học lớp bổ túc cấp tốc”.

Nghe ông Tô nói xong, người đàn ông ngửng đầu nhìn tôi và ánh mắt có vẻ lạnh lùng. Ông ta nói: “như thế thì tốt đấy”. Đó là một cán bộ cấp cao người miền Bắc, mà sau này tôi biết ông là chính ủy của cả vùng này. Ông Tô cúi đầu chào và dẫn tôi ra khỏi phòng sau khi gọi là giới thiệu và loan báo tôi phụ trách lớp văn hóa bình dân học vụ cấp tốc.

Lúc này trời đã khuya, tôi xin ông Tô về lại nhà để ngủ một giấc cho khỏe sau cả một ngày căng thẳng. Ông dẫn tôi ra khỏi trụ sở và cùng đi với tôi về lại nhà. Theo ông có hai du kích người Thượng vác súng đi kèm. Ông bảo tôi: “Mi nhớ sáng mai có mặt tại trụ sở đúng 6 giờ sáng hỉ. Đến sớm sẽ ăn cơm luôn ở đấy và tao sẽ cho mi biết giờ giấc làm việc luôn”. Tôi im lặng bước đi cạnh ông và chẳng mấy chốc đến nhà. Giã từ ông và tôi vào nhà, leo lên chiếc ghế bố, để nguyên quần áo và định lòng sẽ phải ngủ một giấc.

Nhưng, bên ngoài thỉnh thoảng có những đóm hỏa châu bắn lên từ phía quận Sông Pha, rồi có tiếng xe di chuyển. Tôi nghĩ đến ngày mai sẽ phải trình diện ông Tô ở trụ sở thôn, tự dưng trong lòng có một nỗi lo vụt đến. Cố xua đi để nhắm mắt ngủ… và tôi đã ngủ một giấc cho đến lúc trở mình khi thấy trời ửng sáng.

Tôi đem khẩu súng M16 và dây băng đạn ra phía sau nhà, dùng cuốc đào một cái lỗ xong dùng bao tải gạo quấn súng và đạn vào rồi thảy xuống hố lấp đất lại. Tôi cào mấy lá ổi khô rụng đầy vườn nhà phủ nhẹ lên trên, cẩn thận thảy vào đó mấy nhánh củi ngụy trang. Xong tất tả lên đến trụ sở thôn. Đường thôn bằng đất không một bóng người. Ai dám đi giờ này khi trời vừa rạng sáng trong lúc khu vực này đã bị quân cách mạng chiếm đóng mấy ngày nay rồi.

Bước vào trụ sở tôi gặp ngay ông Tô đứng chờ ngay cửa ra vào. Ông đưa tôi vài trái bắp luộc bảo ăn sáng và uống trà rồi bắt đầu công việc mà ông giao. Tôi vừa gặm bắp, vừa suy nghĩ công việc gì nhỉ? Lớp văn hóa bổ túc có nghĩa là dạy chữ cho mấy người Thượng biết viết và đọc. Ăn xong, thì ông gọi tôi vào phòng ông và bảo: “Có thay đổi rồi. Mi nhận nhiệm vụ mới”. Tôi chưa kịp hỏi là cái gì thì ông đặt một khẩu súng Colt 45 trên bàn và bảo: “Mi đeo súng vào. Cách mạng phải có súng. Hai ngày nữa khi bọn ngụy quân, ngụy quyền về lại đây thì mi có nhiệm vụ lập danh sách và bọn nó phải khai trình cũng như nộp lại các vũ khí. Đặc biệt là bọn cảnh sát ở Xã. Mi lập danh sách xong nộp cho tao”.

Ông nội ơi! Con đâu có phải là quân cách mạng , đâu có phải là giải phóng quân đâu mà bảo con đeo súng. Lại còn nhiệm vụ ghi chép tên tuổi, vũ khí giao nộp của các quân, cán, chính VNCH nữa chứ. Ông Tô cứ làm như tôi đã là phe cách mạng của ông rồi, khi ông tự động giao súng cho tôi và phát cho bộ quân phục của du kích mặt trận giải phóng. Đó là chiếc mũ tai bèo và bộ quần áo màu xám nhạt bằng ni lông. Đã thế còn bắt tôi phải mang đôi dép cao su màu đen làm bằng lốp xe nữa. Ông muốn cho chắc ăn nên bảo: “Hiểu chưa?. Mi có văn hóa nên tao giao cho mi trọng trách nặng nề và vinh quang”.

Suốt ngày ông Tô bám sát tôi và chỉ bảo làm cái này, làm cái nọ, giúp ông đánh máy lại các mẫu văn bản mà tôi nhớ tờ nào cũng có hàng chữ “Cộng hòa miền Nam Việt Nam, phía dưới thêm dòng chữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Tôi cảm thấy ngồ ngộ khi đọc những chữ này lần đầu tiên trong khu giải phóng.

Thế rồi một ngày trôi qua, đến chiều tối về lại căn nhà xưa. Tôi bắt đầu lo lắng khi nhận ra mình bị rơi vào một tình huống ngang trái, cũng chỉ vì tôi có văn hóa, và có khả năng đánh máy chữ nên bị ông Tô trưng dụng để tạm thời làm công việc mà ủy ban quân quản khi tiếp thu khu vực cần phải làm. Tự dưng tôi có một linh cảm và nghĩ đến… là làm sao rời bỏ Song Mỹ ngay lúc này, nếu không tôi sẽ phải bị buộc làm việc trong một hoàn cảnh “tình ngay lý gian”. Đó là chưa kể nếu lực lượng quân đội VNCH chiếm lại Song Mỹ, thì… đời tôi sẽ ăn một phát đạn với tội danh “du kích nằm vùng”. Nghĩ đến đó, và như một phản xạ, tôi thu xếp nhanh chóng vài bộ quần áo trong nhà, định ra sau hè đào lấy súng và đạn mang theo, nhưng tôi bỏ ý nghĩ đó vì có linh cảm là “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm. Ai dùng súng sẽ chết vì súng”. Ngay cả cây Colt 45 mà ông Tô đưa cho tôi, cũng vứt lại trên chiếc giường bố, vì tôi biết sau khi rời nơi đây, thể nào ông Tô cũng ghé vào nhà tôi.

Trời vừa sụp tối, tôi nhanh chóng đi xuống con dốc của con đường đất nhỏ ngoằn ngoèo dẫn ra bờ sông Ông. Tôi biết dọc bờ sông có một con đường tắt đi đến cây cầu của thôn Ninh Bình, để từ đó tôi sẽ lội qua con suối và leo lên đường lộ rồi tìm cách đi về hướng thị xã Phan Rang.

Không một bóng người, vài con chó sủa vang khi thấy bóng tôi đi qua. Đến gần bờ sông thì có tiếng người lao xao. Tôi thụp người xuống nép vào một bụi lau cao quá đầu người. Chết mẹ! Có mấy tên du kích vai mang AK đang dùng gàu múc nước dưới sông. Sao lại múc nước khi trời vừa sụp tối như thế này nhỉ? Tôi quan sát kỹ sau khi ngồi một lát và thấy rõ đó là những tay du kích người Thượng đang đóng chốt canh ngay cửa ra vào của thôn Song Mỹ, là nơi con đường chính cho người ta đi canh tác và các chiếc xe bò đi lấy củi chở về băng qua sông. Bởi vì nơi đây nổi lên một gò đất dài và nước chảy xấp xỉ cạn, chứ không có sâu và chảy xiết qua các tảng đá lớn như hầu hết trải dài của con sông.

Tôi lùi lại và chọn một lối đi khác trong các bụi rậm mà không còn theo con đường mòn cũ như lúc trước tôi hay ra ngoài rẫy canh tác. Mất phương hướng, nhưng tôi nhìn ánh sao lấp lóe trên bầu trời và đoán là lối đi này sẽ dẫn tôi đến một tảng đá phẳng rất lớn nằm cạnh bờ sông mà lúc trước tôi hay đi săn chim cu rừng. Hơn nữa, chẳng ai nghĩ giờ này lại có một sinh vật nhúc nhích trong bụi rậm là tôi cả. Bằng mọi cách, tôi phải rời bỏ nơi đây. Bây giờ khi viết lại dòng chữ này tôi hãy còn nhớ rõ. Đó là những tháng ngày trong cuối tháng Tư 1975. Tôi nhớ rất rõ những tình huống mà trường đời đã dạy cho tôi. Đó là phải biết vượt qua các nghịch cảnh, vượt qua sợ hãi, vượt qua gian nan và sự chết để tồn tại…

(xem tiếp kỳ sau)

No photo description available.

All reactions:

15Dieutan Trinh, Dai ViTuan and 13 others

Trending

Discover more from Nhạc sĩ Châu Đình An

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading