CDA

Đây là câu hỏi của một vài bạn trẻ đang tìm hiểu bước vào con đường sáng tác nhạc, là viết nhạc có khó không? Nhạc viết trước lời, hay ngược lại, hay là viết một lúc cả lời và nhạc?

Tôi không là người hướng dẫn hay chỉ dẫn theo cách sư phạm của trường lớp, nhưng tôi thiết nghĩ có thể chia sẻ vài kinh nghiệm trong cách viết nhạc đến các bạn trẻ.

Âm nhạc cũng như những bộ môn nghệ thuật khác phải qua căn bản học hỏi ở những môi trường sư phạm, có sự truyền đạt và giảng dạy để chúng ta nắm bắt và thực hành. Có những bạn tự học qua sách vở, bạn bè, và qua thời gian tích luỹ kinh nghiệm.

Trở lại câu hỏi “sáng tác nhạc có khó không?”. Là một câu hỏi không thể trả lời một cách chính xác. Đó là phạm vi tâm hồn bạn. Chúng ta thường nghe nói là, không có trường nào dạy chúng ta thành nhà thơ, nhà văn. Vì thế không có trường nào dạy chúng ta trở thành nhạc sĩ sáng tác.

Ca khúc là tiếng lòng, tâm hồn rung động và cảm xúc trước sự việc xảy ra tác động đến mình. Những tác động như tình yêu, xã hội, cuộc đời xoay quanh 3 chủ đề lớn không tránh được. Đó là: TÌNH YÊU, THÂN PHẬN và QUÊ HƯƠNG.

Những nhạc sĩ lớn của Tân nhạc Việt Nam điển hình như: Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Hoàng Thi Thơ, Y Vân, Nguyễn Văn Đông, Lam Phương, Lê Dinh, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Minh Kỳ, Nguyễn Ánh 9, Anh Bằng, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Trần Thiện Thanh, Từ Công Phụng, Ngô Thuỵ Miên, Vũ Thành An… và còn nhiều nữa không kể hết ra đây được, đều có những tác phẩm xoay quanh 3 chủ đề này.

Mỗi nhạc sĩ có phương cách sáng tác khác nhau. Có những nhạc sĩ chỉ thuần viết giai điệu và thường mượn thơ để phổ nhạc. Đó là những ca từ đẹp tính văn chương, văn học. Có những nhạc sĩ không dùng lời của người khác (như nhạc sĩ Lam Phương) không phổ thơ của ai hết. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có duy nhất một bài dùng lời thơ của Trịnh Cung trong ca khúc “Ừ, thôi em về”. Nhạc sĩ Phạm Duy được ví là “phù thuỷ phổ nhạc vào thơ”, bởi bài thơ nào vào tay ông cũng trở thành “tốp hít” được yêu thích và lan toả. Những thi sĩ khi qua tay Phạm Duy như Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Văn Bình, Vũ Hữu Định… đều được công chúng biết đến thơ và tên tuổi của họ.

Cách sáng tác nhạc của các nhạc sĩ tiền bối rất là đặc biệt bởi những lời nhạc. Đặc biệt là các nhạc sĩ viết lời hay như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn. Đó là những lời lẽ đọc lên một lần là nhớ, khiến người nghe nhạc một lần với lời nhạc là đã mang ấn tượng sâu đậm. Chưa kể đặt tựa cho bài nhạc rất lạ có tính trừu tượng mà sau này nhiều người dùng tựa nhạc để đặt cho trung tâm nhạc của mình. Chẳng hạn Diễm Xưa, Biển Nhớ, Nắng Thuỷ Tinh, Hạ Trắng, là những tựa bài nhạc mang tính riêng, độc đáo, và chưa ai nghĩ hay dùng đến.

Khi nghe nhạc, người ta không chỉ thưởng thức giai điệu mà còn lắng nghe ca từ. Trong ca từ được lồng vào với các nốt nhạc quả thực là một “kỳ tích” của các nhạc sĩ tiền bối. Bởi vì nốt nhạc có 7 nốt đọc từ nốt “đồ, rê, mi, fa, sol, la, si”. Mỗi nốt nhạc có âm riêng theo quãng cao thấp, do vậy khi gắn với lời nhạc, là ca từ đi với các dấu “sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, và không có dấu nào”, đã là một hạn chế nhạc đi với lời.

Trong nhạc có văn phạm và luật. Như thơ lục bát có luật câu sáu và câu tám gieo vần với nhau. Trước hết nói về văn phạm qua các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Khi soạn ca khúc không thể “cưỡng âm” là ép ca từ đi theo nốt nhạc với những chữ có dấu hỏi hay dấu ngã. Bởi vì hát là bày tỏ, tâm sự, kể lể, kể chuyện, tỏ tình với đối tượng. Do vậy, nếu ca từ dùng sai trong chính tả âm nhạc thì bài hát đó sẽ giảm giá trị một phần lớn. Nhạc sĩ Phạm Duy đã nói với tôi điều này, tôi học được nơi ông, nhiều chi tiết quan trọng và giá trị mà tôi đã áp dụng khi viết lời cho ca khúc của mình. Đó là luật “cân phương” và luật “chính tả, văn phạm” là luật căn bản của một ca khúc.

Kế đến, bạn đừng ép mình phải theo những cảm xúc để “gò” ca khúc theo cách không tự nhiên. Hay là bị ảnh hưởng bởi một nét nhạc nào đó mà bạn đã nghe qua. Sự ảnh hưởng âm nhạc của người khác cũng làm cho ca khúc của mình không có tính riêng. Trong ca khúc có hai vực âm khác nhau, đó là âm thứ, hoặc là âm trưởng. Người ta nghĩ “thứ” là phụ, và “trưởng” là chính. Chẳng hạn như khi chúng ta nghe bà đó là “thứ thiếp” của ông đó, còn bà kia là “bà trưởng” đó.

Nhưng trong âm nhạc, cách gọi đó chỉ là để xác định màu sắc, hồn tính và âm vực của ca khúc. Đó là cách xác định chủ âm của bài nhạc Major hoặc Minor. Cả hai đều có mầu sắc và tính âm khác nhau. Một cách dễ nhận ra, chủ âm “thứ” nghe buồn, chủ âm “trưởng” nghe tươi sáng. Nhưng thực ra, buồn hay vui trong một ca khúc không tuỳ thuộc vào “thứ” hay “trưởng”. Có những bài cung “trưởng” nghe buồn da diết.

Ca khúc Trên Ngọn Tình Sầu là một bài thơ của thi sĩ Du Tử Lê được nhạc sĩ Từ Công Phụng phổ nhạc, là một ca khúc chủ âm Major (Trưởng) nhưng nghe buồn bâng khuâng. Ca khúc này nhạc sĩ Từ Công Phụng viết từ lâu, vào thập niên 1960, tuy đã có nhiều ca sĩ hát thành công, và được toả sáng với chương trình Paris By Night 135 do Trung Tâm Thuý Nga thực hiện. Nếu bạn nghe sẽ thấy chủ âm Trưởng Major, nhưng lãng đãng nỗi buồn qua ca từ và giai điệu lãng mạn.

Trong ca khúc phổ thơ Vũ Hữu Định mà nhạc sĩ Phạm Duy đã viết, là bài “Còn Chút Gì Để Nhớ”. Đó là bài hát cung Trưởng, nhưng nghe buồn man mác, hoặc bài thơ Ngậm Ngùi của Huy Cận, cung “trưởng” mà nghe thật là “ngậm ngùi”. Hoặc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đa phần nhạc của ông nghiêng về cung “thứ”. Nhưng, những bài cung “trưởng” của ông, cả hai màu sắc khi nghe đều buồn. Đó là hồn tính cảm xúc của ông khi đối diện với thực tế trong sáng tác. Chẳng hạn bài Diễm Xưa, Ca Dao Mẹ, Hạ Trắng, Một Cõi Đi Về là những bài cung “thứ” Minor nghe thật là buồn. Những bài khác cung trưởng (Major) cũng buồn không kém, cho dù âm vực tươi sáng như Nắng Thuỷ Tinh, Nhìn Những Mùa Thu Đi, Mưa Hồng.

Riêng nhạc sĩ Phạm Duy thì ông sử dụng cả hai cung thứ và trưởng trong một ca khúc. Nếu bạn nghe ca khúc Kỷ Niệm.

Cho tôi lại ngày nào

Trăng lên bằng ngọn cau

Mẹ tôi ngồi khâu áo

Bên cây đèn dầu hao

Cha tôi ngồi xem báo

Phố xá vắng hiu hiu

Trong đêm mùa khô ráo

Tôi nghe tiếng còi tàu

Nhạc sĩ Phạm Duy đã sử dụng cung Trưởng.

Nhưng ở đoạn:

Cho tôi lại nhà trường

Bao nhiêu là người thương

Không ai thù ai oán

Ai cũng bảo tôi ngoan

Tôi yêu thầy cô lắm

Với tiếng nói vang vang

Tôi yêu tà áo trắng

Cô em bạn cùng trường

Ông đã sử dụng cung thứ Minor vào đoạn này và tạo cho người nghe cảm thấy nỗi buồn kỷ niệm mà ai cũng đã sống qua, thì nay không còn nữa, và tăng thêm nỗi nhớ của mình qua âm vực buồn của quá khứ.

Đó là kỹ thuật viết nhạc của các vị nhạc sĩ tiền bối rất đặc biệt, chưa kể bạn đọc lời nhạc Kỷ Niệm là một bài thơ của chính nhạc sĩ Phạm Duy.

Một vài thí dụ để bạn nhận rõ là khi bạn viết ca khúc. Đầu tiên cảm xúc đến qua âm vực Major hay Minor, là cung thứ hay là cung trưởng. Bạn phải chọn nó để xác định ca khúc và câu chuyện bạn sẽ kể ra thuộc màu sắc gì? Đó là cách chọn màu của hoạ sĩ khi chuẩn bị vẽ một hoạ phẩm.

Ca khúc có giá trị hay không chưa phải chỉ có giai điệu hay, mà còn phải có ca từ hay nữa. Bạn cần đọc thơ, đọc văn nhiều để học các ngôn ngữ và tìm ý chữ cho ca từ của bài hát.

Một vài chia sẻ và như một câu trả lời “quá dài” đến câu hỏi của bạn: Sáng tác nhạc khó không?

Cảm ơn bạn đã đọc bài viết này. Trong một dịp khác, tôi sẽ nói thêm về lãnh vực này.

Châu Đình An

Trending

Discover more from Nhạc sĩ Châu Đình An

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading