Nhạc…

Châu Đình An

Năm 13 tuổi, tôi làm quen với cây đàn guitar. Các đầu ngón tay tôi sau vài ngày sưng lên ê ẩm vì bấm vào dây đàn bằng thép nhiều quá. Vậy mà tôi “sướng” tê và hãnh diện vì tưởng tượng mình đã trở thành “nghệ sĩ”. Cho dù biết rằng, tiếng âm thanh phát ra từ tiếng đàn tửng từng tưng chẳng giống bài ca nào. Tôi ghiền cây đàn guitar đến nỗi khi cả nhà ngủ rồi, khoảng 10 hay là 11 giờ đêm tôi vẫn áp lỗ tai phải vào thùng đàn và gẫy nhẹ để tự mình nghe âm thanh từ đàn do mình gẫy ra.

Cũng vì “ghiền” guitar mà tôi bị một trận roi đòn từ bác tôi, vì ngày mai còn phải đi học mà giờ này còn “rượng” với đàn địch. Đó là ngôn ngữ của bác mà tôi còn nhớ. Người lớn thời ấy cho là ăn chưa no lo chưa tới mà đàn với hát là chướng tai gai mắt lắm, bởi thế mỗi khi có dịp ôm đàn là vừa sung sướng, vừa lo lắng.

Con nhà nghèo mà bày đặt đàn với địch làm gì thì sao mà có thầy chỉ giáo. Nhưng phải tầm sư học đạo thôi, mà trong xóm nghèo không có ánh điện, chỉ có đèn dầu thắp mỗi đêm thì cách vui thích nhất là vác đàn đi gặp bạn hiền tụm năm tụm ba. Xóm tôi lúc đó có vài tên cũng có đàn guitar, và tôi nể lắm khi thấy bọn nó đàn hát vây quanh bởi một đám con gái ái mộ.

Năm 17 tuổi là lúc tôi đã biết đàn gọi là khá, nhưng mà đàn mò. Nhìn và đọc nốt nhạc đau đầu quá nên thôi… nghe băng nhạc đàn theo là OK. Được cái trí nhớ và đam mê cho tôi học lóm nhanh về khoản này. Rồi trong lớp học vài tên bạn đứa đàn, đứa trống, rủ tôi làm ban nhạc. Tiền đâu mà mua nhạc cụ? Đó là một khoản xa xỉ khó rờ đến được. Nhưng được cái có thằng bạn nhà nó khá, và là con trai một nên bố mẹ nó cưng chiều cho nó tiền mua một bộ trống.

Ngày bộ trống mới cáo cạnh mở ra và trịnh trọng đặt giữa nhà thằng Phong là ngày tôi nhớ mãi cái cảm giác ngây ngất và la đà như uống rựơu đầu tiên. Mẹ ôi! Bộ trống mầu xanh đậm sang trọng quý phái không thể tả. Hai cái mâm vàng (Cymbal) to như hai cái mâm đựng cơm trong các bữa ăn long lanh dưới ánh đèn. Thằng Phong suốt ngày cầm giẻ và chổi lông gà lau mãi bộ trống. Không ai được đụng đến ngoài nó. Thế là nó gõ tùng xèng cả ngày và tôi nghĩ chắc là cả xóm đau cái lỗ tai.

Đã thế còn thằng Ánh là con nhà giàu được bố mẹ cho mua cái guitar Amplifier mới hách. Trong “ban nhạc” mới tượng hình có hai thằng nghèo là tôi chỉ có cây guitar quèn và thằng Tùng thì có cây guitar Bass. Chúng tôi xáp lại và tập các bài hát của The Beatles như Don’t Let Me Down, Let It Be, rồi tập thêm nhạc của CCR (Creedence Clearwater Reviral) các bài Who stop the rain? Have you ever seen the rain? Chưa dừng lại chúng tôi chơi luôn nhạc của Grand Funk Railroad là ban nhạc rock lừng danh hiện đại thập niên 60, 70.

Trời cho tôi có “giọng” được nhất trong đám bạn nên trở thành “ca sĩ chính” của ban nhạc mang tên “Bốn Sợi Tóc” mới oai chứ. Và ban nhạc chơi trong xóm trước, sau đó ngày mãn khoá học chúng tôi được mời chơi trên sân khấu ngoài trời của nhà trường. Nhớ lại cảm giác “oai phong” ghê gớm khi vai mang đàn guitar đứng trên bục một mình một cõi ta bà… và nhìn khán giả hoan hô với bao cặp mắt ngưỡng mộ của mấy cô bạn học trong lớp. Ban nhạc muốn ngầu thì phải để tóc dài. Thời ấy phải có thẻ để tóc do chính quyền cấp mới được. Và tôi cùng mấy thằng bạn thuộc ban nhạc “làng” thì làm quái gì với tới cái thẻ để tóc đó? Hơn nữa tóc tôi vừa lú nhú ra thì ông bác nhắc “đi cắt tóc đi, tóc dài rồi”.

Đó là cả trời kỷ niệm thuở chập chững làm quen với cây đàn guitar và âm nhạc. Thế rồi mấy thằng bạn sau khi rớt tú tài 2 thì phải đi lính. Nhà bác tôi vì kế sinh nhai phải di dời từ Cam Ranh đi vào Phan Rang. Và ban nhạc rã đám chỉ còn tôi lúc ấy được miễn dịch ôm theo cây đàn đi theo chương trình “khẩn hoang lập Ấp” của chính quyền VNCH do ông Phan Quang Đán làm Quốc Vụ Khanh Khẩn Hoang Lập Ấp chủ trương.

đến khu vực Khẩn hoang lập Ấp… Làm ruộng làm rẫy ban ngày, và đêm đến là tôi ôm guitar hát nghêu ngao… Thế rồi khi Mỹ bỏ miền Nam năm 1975, tôi bị bắt vào tù cải tạo. Đến năm 1978 được thả ra tù và trở về làng xưa. Trời nắng như thiêu đốt, cây cỏ trước sân nhà héo hắt. Hai bàn chân tôi phù thủng lết về trên con đường đất nhỏ trong làng. Cây đàn guitar cũ mèm vẫn nằm trong góc nhà, đêm đến vắng lặng, tôi ôm đàn và rưng rưng xúc động hát nho nhỏ:

Ta về trong hư hao

Thân phận ta lao đao

Bao cây vườn trước ngõ

Nghiêng ngả gửi lời chào

Mái nhà xưa mờ mờ

Ta thân xác bơ vơ

Chúa ở trong nhà thờ

Thương xót ta dại khờ

Từ đằng xa ngoài ngõ

Con thú sủa quen hơi

Bao nhiêu ngày xa vắng

Ôi làng ta tơi bời

Họ nhìn ta xa lạ

Như chưa thấy lần nào

Ta ôm lòng buốt giá

Như vừa rời tiếng ca

Em yêu ra đứng nhìn

Xa cách như chuyện tình

Thôi bây giờ một chỗ

Vì yêu em một mình

Lê đôi chân nạng gỗ

Nghe nước mắt lưa thưa

Một vài giọt rơi xuống

Như mồ hôi ban trưa

Ôi nỗi buồn chất chứa

Biết dấu đâu cho vừa

Vì ai vừa thở dài

Bầu trời chợt đổ mưa

Ta buồn nên bật khóc

Ướt hết cả một đời

Ta thương từng sợi tóc

Trong ngày nỗi chơi vơi

Ngày trở về hấp hối

Ta ngất ngưởng xa xa

Như chim về tổ ấm

Bao giờ hết bôn ba?

Và tôi đặt bút xuống ghi thành ca khúc với tựa bài nhạc “Ta về trong hư hao”. Mà lúc này tôi đã biết ký âm nhạc. Trong thời gian khẩn hoang lập ấp. Tôi đã mua một vài bài nhạc trong hiệu sách của ông Phạm Duy và ông Trịnh Công Sơn, tôi xem cách viết nhạc của hai ông trong các bài nhạc in sẵn. Tìm hiểu nốt đen, nốt trắng, nốt có 1 móc, nôt có 2 móc, nốt có 3 móc, nốt có chấm là cái gì. Tôi xem mỗi đoạn gọi là Bar, đó là khung nhạc, rồi trước khung nhạc ghi 4/4 có khi 2/4 rồi lại có cái ¾… và thực ra cũng đau đầu lắm khi tự mình tìm hiểu mà…

Đó là nói chuyện tự học nhạc, hay rõ hơn là nói việc tìm hiểu nhạc lý nó ra làm sao. Mà thiệt tình là tôi rất dốt toán. Khi học các lớp hoá học hay đại số với “sin, cô sin, tăng cô tăng” là tôi chết tiệt luôn. Bù lại lớp Việt văn thì học rất chiến, có lẽ anh nào chị nào có máu văn chương cũng né toán vì thẩm thấu không đến chốn chăng? Mà các nốt nhạc thì đen hay trắng, móc hay không móc… cũng là các phân số không hề thích hợp với tôi.

Nhưng sau khi đi tù về thì tôi học được cái tính là “kiên trì” vì ở đời không có cái gì dễ mà cũng không có cái gì khó. Chỉ có lòng ta khó hay dễ mà thôi. Nghĩ thế nên tôi quyết chí tự học cho ra trò trống. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, thế rồi có lúc tôi bật cười khoái chí vì có một ít khám phá sự hiểu biết của mình được đền đáp.

Tôi lại mua thêm sách nhạc lý. Thiệt tình mà nói đọc sách có khi còn khó hiểu hơn là tự mò đấy. Phách, nhịp sen cốp và cách giải thích sao tôi thấy xa lạ và vượt tầm hiểu biết của mình. Tôi tìm kiếm phân số 4/4, rồi 3/4/ qua đến 2/4 là cái quái gì? Rồi thỉnh thoảng thấy chữ C và hiểu là 2/2 có khi thấy 6/8 ngẩn ngơ con tò te. Ôi nhạc lý sao mà… cao siêu quá, đối với thằng dốt toán như tôi.

Chắc ai cầm đàn guitar thì hai cái “gam” dễ nhất là La thứ (Am) và Mi thứ (Em) là lúc nào cũng bấm đầu tiên. Thứ nhất là dễ bấm, thứ hai là nghe tình cảm. Hai âm này cho ta nguồn cảm hứng lạ lùng. Thời ấy tôi cứ Mi thứ và hát Giọt Mưa Thu của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, và bài hát này nghe buồn ghê gớm nhưng tôi thích nhạc buồn. Hơn nữa đệm bài này theo cách rải guitar cũng dễ không cầu kỳ gì cả. Cho đến khi nhớ lại lúc tôi hát bài Sound of Silence của Simon và Garfunkel cũng gam Mi thứ nghe thật là tê tái và từ gam Mi thứ (Em) xuống La thứ (Am) xong đến Si thứ 7 (Bm7) là xong bài hát…

Nói như thế để thấy con đường viết nhạc của tôi đi lúc đầu tiên với bước chân dẫm lên nhạc ngoại quốc trước với các ban nhạc và ca khúc của CCR, của The Beatles, của Simon & Garfunkel, sau này tôi lại mê thêm Janis Joplin, Carol King. Đó là những nét nhạc và hồn nhạc đã ảnh hưởng sáng tác của tôi sau này với cách chuyển hợp âm phong phú, đa dạng và sáng tạo. Bởi vì nhạc Mỹ hay Anh Quốc có hợp âm và luôn có Harmony, không đơn âm Monopoly như nhạc Việt Nam và nhạc Á Châu.

Mỗi khi nghe nhạc của Tây Phương là tôi để ý và nghe các hợp âm (gam hay là accord) của các nhạc sĩ Tây Phương họ đặt rất hay, phải nói là siêu nữa. Ví dụ ca khúc “Have you ever seen the rain?”. Đó là một ca khúc lừng lẫy với cách chuyển hợp âm nghe đến bây giờ vẫn không chán. Bởi vì sự giản dị và chân thành của nó. Chẳng hạn ca khúc Imagine của John Lennon trở thành ca khúc của mọi thời đại, cũng bởi vì tính giản dị chân thành. Tuy nhiên, chiều sâu của các hợp âm trong ca khúc mà tôi nêu ra đan cử của ví dụ cho thấy đó là sự sáng tạo tinh vi đến từ thiên tài và nguồn cảm hứng có thật của họ. Do đó, tôi nghĩ mình cần lưu ý điểm này và cố gắng học cái này cho cách viết nhạc của mình. Nhớ lại tôi áp dụng cách này trong bài thơ của Thầy dạy lớp Viêt văn mà tôi theo học lúc còn lớp đệ Tam. Thầy Thanh khoái cô học trò tên là Lệ Thu. Khoảng cách Thầy trò nam nữ thời bấy giờ khó lắm, lạng quạng ló mòi thầy “dzê” trò là mất việc và bị bêu nhục như chơi. Nhưng Lệ Thu đẹp quá. Trong lớp bọn con trai nào cũng nhìn lén, ngắm liếc cô nàng, và trong số đó có tôi chứ. Nào phải “thánh” đâu mà né được. Tôi khá văn chương được thầy chọn làm trưởng ban bích báo là báo viết trong tấm Poster rồi dán vào vách tường nhà trường ấy mà, gọi là bích báo. Dù là trang của học sinh trong lớp, nhưng thầy có quyền đóng góp bài vở. Thầy Thanh đưa tôi bài thơ thầy viết và bảo tôi “lay out” sắp đặt sao cho đàng hoàng nhé.

Tôi liếc qua thấy bài thơ tựa Lệ Thu, và chữ tựa Lệ Thu này thật là bay bướm với nét chữ của thầy. Đã thế, thầy còn dặn tôi phải kiếm đâu đó lá mùa thu vàng ép vào trên bài thơ cho nó đã! Hiểu không? Thầy dặn tới dăn lui và tôi chỉ dạ dạ… Bài thơ được tôi cho vào trên trang cao nhất của bích báo là báo tường với viền khung bay bướm của tôi, lại kèm theo một xương lá vàng thật lãng mạn.

Xuân đã qua rồi nghe Lệ Thu

Tròn đêm ta khóc với sương mù

Ta ôm nỗi nhớ trong hồn nhỏ

Để gặp em về lúc mộng du

Gót ngọc nở hoa thắm vệ đường

Em đi cây cỏ cũng đều thương

Âm thầm ta đếm em từng bước

Ai biết lòng ta đã vấn vương

Ta lạc vào trong tà áo em

Mùi da thịt đó đắm hương chìm

Ta say quên cả vòng tay khép

Mà lạy thời gian mãi bóng đêm

Rực rỡ môi run mắt ảo huyền

Nụ cười rạng rỡ ẩn tình duyên

Tuyết trinh vẫn giữ lòng trung ái

Ta nắm tay em thật diệu hiền

Phải công nhận bài thơ Lệ Thu tán gái học trò của Thầy Thanh hay thật. Em Lệ Thu chắc sướng mê tơi khi đọc bài này. Mà nghĩ thầy mê quá hoá dại nên công khai cho bài thơ này lên bích báo. Nhưng tôi nghĩ tình yêu thì ai mà cấm cản được, do vậy đã có câu chuyện bên Anh không thèm làm Vua kế vị mà chạy theo tình yêu bị Hoàng gia cấm cản. Nhưng câu chuyện thơ Lệ Thu không dừng ở đấy. Tôi lại ngứa “nghề” va chạm vào với thầy Thanh. Đó là ai cho phép em phổ nhạc? Hả ai cho phép? Mẹ ơi! Thi sĩ khi được nhạc sĩ phổ nhạc là vui mừng chứ, vì bài thơ sẽ bay xa, bay rộng và vào tình sử âm nhạc như Em hiền như Ma sơ của Nguyễn Tất Nhiên được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc trở thành bất tử. Hay Cuối cùng cho một tình yêu của ông Trịnh Cung được nhạc sĩ Trinh Công Sơn phổ thành ca khúc trở thành giai thoại một câu chuyện tình sướt mướt đến bây giờ.

Vậy mà tôi bị thầy Thanh “đì” chết bỏ khi dám phổ nhạc bài Lệ Thu. Bài thơ này tôi ngứa tay bấm gam Mi thư (Em) và soạn thành ca khúc. Thầy đếch thèm nghe tôi trình bày và kể từ đó, điểm Việt văn của tôi bị đánh xuống thấp kém quá trời cũng vì dám chạm đến Lệ Thu của thầy. Mà thật vậy, em Lệ Thu không hiểu sao khi nghe tôi soạn nhạc bài thơ này lại nũng nịu xin tôi đến nhà nàng chơi và hát cho em nghe. Em hẹn mùa xoài chín, đó là có cây xoài trước ngõ nhà nàng vàng trái và em muốn tôi đến ăn xoài để hát ca khúc Lệ Thu này. Cái vụ này hơi kẹt đó à nhe, vì Thầy biết thì chắc tôi bị đuổi ra khỏi lớp luôn. Tôi bảo em đừng nói với ai nghen, chỉ mình anh với em biết thôi. Cha mẹ ơi làm như là bí mật quốc phòng cấm tiết lộ. Em Lệ Thu vì muốn nghe tôi hát nên đồng ý sẽ không bao giờ tiết lộ, và hai đứa làm buổi thề bằng cách ngoéo tay. Ôi bay giờ tôi còn nhớ ngón út của Lệ Thu thon dài mềm mại thật là rung động.

Việc phải đến đó là đến nhà nàng bằng chiếc xe gắn máy hiệu Gobel. Đó là xe của Đức Quốc chế tạo đã cũ mà bác tôi hay dùng di chuyển. Mỗi lần máy nổ một cái rầm và xịt khói đen bay tua tủa hôi rình mùi xăng dầu. Tôi lái xe đến nhà nàng. Chắc là biết tôi đến khi nghe tiếng máy xe nên Lệ Thu đã đứng trước ngõ nhà. Tôi dựng xe trước sân gạch nhà nàng, và cảm thấy hãnh diện trên vai mình chiếc guitar mang theo. Chứ sao, dù gì đi nữa cũng vì chiếc guitar cũ mèm và ngón đàn với giọng hát mà thằng tôi được cả trường chú ý. Nhất là bọn con gái, đến nỗi trong sân trường có căng tin là nơi bán bánh mì thịt và nước mía mà mỗi khi ra lớp em Đức (em này cũng xinh lắm) luôn tặng cho tôi ly nước mía khi tôi mua ổ bánh mì thịt, nàng không tính tiền ly nước mía, và tôi thấy ánh mắt hơi bực bội của mẹ nàng khi nàng cứ cho tôi mãi ly nước mía mỗi lần mua.

Trở lại em Lệ Thu, thiệt là dễ thương, em nhẹ nhàng cười một cái và nói trỏng “tưởng hông tới chứ?” Nói xong em đưa tôi cây sào cao và bảo hái xoài trước khi vào nhà. Tôi hái vài quả xoài chín trên cây xong là ngồi xuống sân nhà nàng. Trước khoảng sân nhiều bóng mát vì có đủ loại cây trồng. Nàng mang cho tôi ly nước lọc xong thì mắt cứ liếc cây guitar. Tôi hiểu ý nàng có lẽ đang chờ thằng tôi hát bài Lệ Thu nghe làm sao. Cẩn thận tôi còn mang bài nhạc chép tay Lệ Thu và ký tặng nàng. Tôi viết “với tất cả tâm tình, xin trao về Lệ Thu”, chép xong tôi ký tên và thấy nàng cảm động. Thiệt là cải lương và tuồng tích khi tôi viết thế. Mà tôi nghĩ bài thơ là sáng tác của Thầy Thanh chứ nào phải của tôi. Vừa xong ngụm nước thì nàng bảo “hát đi anh”. Thế là tôi bắt đầu gẫy đàn. Mới dạo gam Mi thứ xong qua La thứ thì tiếng gà gáy trưa vang lên. Một con gà trống sau khi gáy nó nhào lên lưng con gà mái và nó đạp mái trước mặt nàng và tôi. Gà ơi! Sao nỡ thế hả khi mà ca khúc chuẩn bi bắt đầu hát. Đã thế chị gà mái sau đó chạy cuống cuồng và kêu toang toác.

Mẹ kiếp! Âm nhạc chưa bắt đầu mà bị phá đám hả?

“Kệ nó đi anh, đừng để ý nó”. Nàng cầm cây khua mấy con gà đang chạy lao nhao và nói với tôi như vậy. Cũng làm mình cụt hứng, đang xông xáo và phấn khích thì tự dưng tôi cảm thấy yếu xìu và nghe tiếng đàn của mình dở ẹt. Thế nhưng vẫn phải dạo phím đàn, gọi là “intro” cho nó lấy trớn. Tiếng đàn tứng từng tưng pha lẫn tiếng gà cục tác nghe thật buồn cười và tôi nghĩ nếu là nhà tôi thì chắc là mấy con gà đó sẽ bị rượt đuổi trối chết hay cho ăn vài cục đá cho bõ ghét.

Sở dĩ Lệ Thu không mời vào nhà vì cả nhà đã đi làm, và nhà không có người lớn như ông bà cha mẹ, do vậy ngồi trước hiên nhà bên tầng tam cấp là công khai minh bạch không có gì lén lút. Chắc là nàng và tôi cùng nghĩ thế. Tôi tập trung vào ca khúc để chuẩn bị hát cho nàng nghe. Hát thì không có tính cách biểu diễn, nhưng có tính cách chinh phục giai nhân thì nhiều. Chuẩn bị mở đầu câu hát sau vài khung dạo nhạc thì nàng đưa dĩa xoài mới cắt và bảo “anh ăn miếng đã rồi hát nhé”. Nhìn miếng xoài vàng tươi cũng dồn cả nước bọt trong cuống họng làm sao mà hát. Thế là tôi ngoan ngoãn xỉa miếng xoài cho vào mồm.

Đang ăn xoài nàng hỏi “xoài ngọt không anh”. Tôi gật đầu khen xoài thơm ngon và tự dưng hai chúng tôi trong phút chốc quên chuyện ca hát. Phía bên góc phải nhà Lệ Thu có cây chùm ruột với chuỗi trái lơ lửng, thấy tôi nhìn cây chùm ruột thì Lệ Thu bảo, “anh ăn chùm ruột không, em hái nhé”. Chưa kịp trả lời là thôi không ăn đâu thì nàng nhanh nhẹn lấy cây sào khều một nhánh chùm ruột sai trái mang đến tôi. Mèng ơi, trước khi “ca sĩ” hát mà lại cho ăn đồ chua thì sao mà hát. Nghĩ thế nhưng không nói, vì tôi hiểu các cô hiếu khách và cảm tình với mình thì hay cho hết cả những gì cây nhà lá vườn mình đang có. Mà phải mừng thôi, vì đó là biểu lộ tình cảm ấy mà. Sao thằng tôi ngu thế, chuyện thế mà nghĩ không ra hả? Nếu họ không thích mình thì làm gì có chuyện từ ăn xoài qua đến ăn chùm ruột. Ừ, mà xem sao, còn ăn quả… gì nữa không. Nghĩ thế nên đang mút trái chùm ruột mà cúi đầu xuống vì tôi không dám nhìn cây chuối sai quả, sợ nàng mời ăn chuối nữa thì nghẹn cổ hát sao nổi.

Cuối cùng cũng vui ghê, đó là tự dưng giống như cắm trại ngoài trời có trái cây ăn bên cạnh người đẹp từ lâu nay ta chỉ biết liếc nhìn và nói vụng về linh tinh với nàng thôi. Có đâu ngồi trước hiên nhà, lại có cây guitar bên cạnh như bùa hộ mạng để chuẩn bị cho nàng nghe một ca khúc mang chính tên nàng. Mà nghĩ ra cũng thật bất công cho thầy Thanh, đó là tác giả bài thơ chứ nào phải tôi đâu, vậy mà bây giờ “phần thắng” coi bộ nghiêng về tôi rồi đấy. Rồi tôi cất giọng “xuân đã qua rồi nghe Lệ Thu…”

Tới đoạn chữ “Thu” tôi chu cái mỏ kéo dài ra và hạ giọng nhẹ nhàng như cánh chim đáp xuống mặt hồ bắt cá. Nghĩa là lao nhanh và nhẹ nhàng. Thế đấy, tiếng đàn có “gái” nghe tự dưng bay bướm và dồn dập hơn mọi khi rồi chậm lại rải đều tha thiết trầm buồn!

Khi bài hát chấm dứt với câu kết guitar tôi hứng thú phăng ra và rải 5 ngón tay nghe réo rắt thì Lệ Thu cảm động đôi mắt nhìn tôi không chớp lẫn rưng rưng. Rồi nàng cúi xuống gạt lệ. Chết mẹ rồi, sao lại là thế? Chưa kịp nói gì thì nàng vỗ tay nhè nhẹ và rối rít cảm ơn. “Anh hát hay quá làm em không cầm được nước mắt”.

Chỉ có thế thôi là đủ rồi. Đâu cần tán tỉnh gì nữa cha mẹ của con ơi. Lệ Thu trong giây phút này đã bị chinh phục bởi ngu ngơ và bài nhạc của tôi. Nhưng chỉ mới tới ngưỡng cửa thế thôi, vẫn còn chưa có gì là chính xác, hay rõ hơn là chưa có gì chắc chắn, nghĩa là “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Chưa dừng lại ở đó bỗng nhiên Lệ Thu bảo “anh à, cuối năm bế giảng lớp học, anh hát bài này trên sân khấu tặng em nhen”. Chết mẹ tôi, cái này coi bộ “phạm thượng” với thầy Thanh và bỏ mạng sa trường đây. Chưa biết trả lời sao thì nàng dục “được không anh?” Tôi bảo để anh hỏi lại anh trưởng ban văn nghệ có cho vào chương trình không đã. Rồi chêm thêm cho chắc ăn “anh phải xin phép thầy Thanh”, vì ổng là tác giả bài thơ mà.

Ối giời ôi. Tự dưng lại nhắc tên ông thầy tác giả trước mặt người là sao vậy hả An? Tôi nghĩ mình ngu thế. Thì nàng bảo một cách chắc chắn “nhạc của anh mà sao lại xin phép hả?” Lệ Thu đã gạt thầy Thanh qua một bên, thơ của thầy rành rành ra đấy mà nàng không ke. Bạn nghĩ sao. Xin cho tôi biết nếu trong trường hợp này sẽ phải trả lời sao cho nàng thoả mãn chứ? Nghĩ đến môn học Việt văn xem như hai cái trứng hột vịt to tướng trong học bạ tôi rồi.

“cũng chỉ vì yêu nên anh khổ

cũng chỉ vì yêu nên anh lỗ…”

Tôi đáp cho qua chuyện và cảm ơn nàng hôm nay khoản đãi hai món trái cây chua ngọt tưng bừng vui quá. Thế rồi đến giờ phải chia tay ra về. Có muốn nán lại trông cũng kỳ và mình phải tỏ ra đừng cho nàng biết là “luỵ tình” thì coi bộ không có uy dũng của nghệ sĩ! “em cảm ơn anh nhiều lắm, bài hát này em sẽ cất giữ mãi mãi”. Ông bà của con ơi, về đây chứng giám nàng nói nghe mát cả hai cái lỗ tai tôi. Vậy là chỉ có viết một ca khúc thôi, mà đâu phải của mình 100% chỉ là lời thơ của người ta, mình chỉ bỏ nhạc vào thôi. À mà quên nói thế nhưng phần đánh đàn và hát mới là quan trọng chứ bộ. Tôi làm bộ nghiêm trang “không có gì đâu Lệ Thu, hôm nào anh sẽ viết thêm một ca khúc về mùa Thu sắp về theo thể điệu Boston cho Lệ Thu nữa nhen”.

Bố láo! Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng Tổng. Chưa biết có viết được bài nhạc thứ hai nào không mà đã gáy vang như con gà mới đạp mái xong. Nghĩ thế thoáng nhanh trong đầu, nhưng tôi cứ phét, ai bảo tán gái mà không phét là nói láo. Càng phét, càng chinh phục, nhưng phét phải có căn, còn phét lơ tơ mơ sau này mất uy tín như chơi. Nàng tròn xoe đôi mắt “thật hả anh?”. Chết tôi chưa. Bây giờ nàng hỏi lại là thật hả anh. Câu hỏi như xác định anh hứa là anh phải làm à nhen. Tôi gật đầu và nói “mùa Thu sắp về, lá Thu sẽ bay trong gió chiều, anh sẽ viết cho Thu mà”.

Chà! Không hiểu sao bà nhập hay sao mà tôi nói nghe hay thế, toàn là câu nói nghe như thơ, lại giọng nói cân, đo, đong, đếm làm mềm lòng giai nhân. Lệ Thu cảm động lắm, nàng tiễn tôi ra cổng ngõ đầu nhà. Tôi dắt xe Gobel đi chầm chầm bên nàng và nghĩ xin thời gian ngừng lại có được không? Chậm mấy thì cũng phải chia tay. Tôi ngồi lên yên xe đạp máy. Chiếc Gobel lạch bạch nổ từ từ rồi nó xịt khói nổ một cái ầm làm Lệ Thu hết hồn. Khói bay tua tủa trong ánh nắng trưa.

Đúng là sương khói mờ nhân ảnh, ai biết tình ai có đậm đà qua hai câu thơ của Hàn Mặc Tử. Nhưng sương khói của thi sĩ là sương khói của thi ca thiên nhiên, có đâu sương khói của máy xăng dầu hôi muốn ho luôn. Tôi hối Lệ Thu vào nhà đi kẻo nắng, nhưng kỳ thực là muốn nàng tránh xa cái xe Gobel thổ tả mắc dịch này. Không nói khi đã thích thì cứ có lý do níu kéo, nàng cũng thế. Cả hai đứa chuyện lung tung chả đâu vào đâu.

Tôi nói với nàng “Thu nè. Anh có một câu đó em nhe”. Và không để Lệ Thu hỏi tôi nói:

“…đầu đội mũ đỏ

chân xỏ giày vàng

một tiếng kêu vang

cả làng đều biết”

Đố em, đó là con gì? Lệ Thu giương tròn đôi mắt đen láy dưới hàng mi cong nhìn tôi không trả lời được. Nàng hỏi lại “đó là con gì vậy anh?”. Tôi cười tếu “đó là con gà trống”. Nói xong tôi chợt hối hận, bố láo mày An ơi, tại sao lại đem con gà trống ra nói trong lúc này, vì sẽ khiến nàng hiểu lầm mình nhắc lại chuyện con gà đạp mái trước mặt hai đứa. Quả là như vậy, đôi má Lệ Thu đỏ hồng trên hai gò má trắng buốt của nàng. Nụ cười nhoẻn ra và nàng lắc đầu… Tôi định nói xin lỗi nhưng thôi, vì mình đâu có cố ý mà xin lỗi làm gì, chỉ là câu đố bâng quơ không có chủ đích gì cả và muốn kéo thời gian nán lại để gần nàng.

Thế rồi vẫy tay và xe lao đi cà rịch cà tàng rời nhà nàng dưới ánh nắng sau trưa. Lòng tôi rộn ràng niềm vui tràn ngập. Dù chưa tỏ tình hay có cái gì bảo đảm là yêu nhau. Nhưng tôi nghĩ là Lệ Thu bắt đầu để ý tôi. Để ý đến một “nhạc sĩ sáng tác” tập tễnh viết ca khúc mang tên của nàng. Ôi con đường viết nhạc gọi là “nghiệp dư” sao lạ lùng và thích thú thế nhỉ. Chẳng phải hối tiếc khi bõ công cày xới suốt bao mùa với mấy nốt nhạc đồ rê mi fa sol… Chẳng phải hối tiếc bao ngày tháng tìm tòi nốt đen nốt trắng, nốt tròn, nốt móc. Nghĩ thế khiến thằng tôi hứng khởi và nghĩ về đến nhà sẽ cố gắng tìm tòi học thêm cách sáng tác sao cho “chiến”. A! Đây rồi nguồn cảm hứng cho “nhạc sĩ” mà mình đã tìm ra.

Nhưng mà viết ca khúc Lệ Thu thì vậy thôi, còn biết có đúng nhạc lý hay không thì tôi phải xem lại. Mà xem bằng cách nào, phải chi có thầy nhạc mình đưa cho thầy xem, hay có nhạc sĩ lừng danh như ông Phạm Duy hay ông Trịnh Công Sơn, hay ông Vũ Thành An thì tôi mừng biết mấy. Đó là nghĩ thế thôi chứ các nhạc sĩ lừng danh đấy đang ở Saigon, mà Saigon là nơi phồn hoa đô hội, làm sao tôi có thể đặt chân đến đấy, chưa kể cách nào mà gặp các nhạc sĩ lừng danh ấy được, vì thuở ấy họ đã là thần tượng của tôi rồi.

Thế rồi lớp Việt văn cũng là nơi làm tôi ái ngại nhất. Mỗi lần nghĩ đến thầy Thanh trong lớp hay trên bục giảng là tôi cảm thấy bất an. Tôi biết kể từ khi “phổ nhạc” bài thơ của thầy, tôi đã bị đưa vào một cái thế tiến thoái lưỡng nan. Thầy chắc cũng thế, nếu tôi làm bài tập luận văn giỏi thì không có gì đánh thấp điểm của tôi được. Mà thầy xem tôi như “tình địch” thì chuyện đó xảy ra khi trù dập thì chỉ có trời mới biết, và mình sẽ biết kêu ca với ai đây? Cũng vì thế mà tôi và Lệ Thu cả hai không dặn nhau nhưng luôn giữ khoảng cách không biểu lộ gì cho ai biết kể từ khi hát ca khúc Lệ Thu tại nhà nàng và ăn trái chín trên cây. Chết mẹ! Nghĩ đến ông Adam bị bà Eva dụ ăn trái cấm mà khổ thì tôi cười nhẹ vì ông Adam khác mà, mình ăn trái xoài thôi, có trái cấm nào đâu. Nhưng tôi nào biết là tôi đã ăn trái cấm ái tình.

Đang lơ mơ nghĩ thế thì tiếng thầy Thanh gọi tên tôi lên và tôi phải đứng trước cả lớp trả lời cũng như viết những câu hỏi của thầy lên bảng. Thầy trao tôi cục phấn trắng, hai con mắt như hầm hầm nhìn tôi và bảo “viết đi”. Tôi lễ phép hỏi thầy là viết cái gì ạ. Thì thầy quát “tôi chưa nói thì anh biết cái gì mà viết, hả?”. Cả lớp ngưng một giây rồi cười ầm lên vì tôi ngáo ộp như đứng trước phiên toà. Thầy Thanh dùng tập sách dọng xuống bàn và nói cả lớp im lặng ngay. Tôi đứng đó và chờ đợi ông thầy cắm cúi dở từng trang sách và xem bài tập của tôi. Á, thì ra thầy chơi trò hành hạ tôi và làm nhục tôi đây chăng?

Tôi vội nhìn xuống dãy bàn nơi có Lệ Thu ngồi, chỉ thấy vội là nàng cúi mặt nhìn tập vở và hai hàng tóc đen nhánh của nàng với một đường ngôi rẽ. Hương vị ái tình là đây sao? Chưa gì đã bắt đầu nếm thú đau thương vì viết nhạc. Tôi ngây ngô nào biết như bây giờ là khi bạn có chút tài, bạn luôn bị ganh tị dẫn đến ganh ghét. Chưa kể đẹp trai cũng bị ghét đó. Tôi nghĩ thi hào Nguyễn Du bảo chữ tài liền vói chữ tai một vần. Trước giờ tôi nào có tài gì đâu, chỉ đàn hát tài tử thôi mà, thế mà bây giờ tôi mới hiểu ai có tài năng thực sự luôn bị cô đơn vì nếu mình không khéo sống. Nghĩa là phải biết “nịnh” hoa lá cành và xuề xoà xum xoe hay là nói theo cách chính trị gia “mị dân” một chút thì không sao. Nhưng cá tính mỗi người mỗi khác, tính tôi thì thích vui vẻ, tình thân và thật thà khi giao du với bạn. Chỉ có chút tiểu xảo khi chinh phục phái nữ thôi, mà cái này thì không hại ai cả.

Đang nghĩ thế thì nghe tiếng thầy quát:

“thôi… về chỗ”

Ủa, vậy là làm sao. Vừa bước chân về chỗ ngồi thì tiếng chuông reo báo hiệu giờ học Việt văn đã tan. Đi ngang bàn đối diện tôi vẫn thấy Lệ Thu ngồi bất động, mái tóc dài đen nhánh của nàng xoả xuống che nửa bờ vai tà áo dài trắng…

Sau ngày bị “làm nhục” trong lớp thầy Thanh thì tôi nhận được giấy mời lên văn phòng Thầy Hiệu Trưởng. Ông thầy Giám Thị gầy nhom có khuôn mặt hai cóp má hóp và tóc ông ta thật dày chải ngược ra sau, đã vậy mặt xương còn thêm râu lơ thơ nên ai cũng ngán thầy giám thị. Ông đưa tôi tờ giấy và bảo lên văn phòng hiệu trưởng ngay.

Tôi bước qua cánh cửa văn phòng thì thấy thầy Hiệu trưởng ngồi sau bàn giấy. Thầy ngước nhìn tôi và bảo tôi ngồi xuống đợi thầy một tí. Khác với thầy giám thị, ông hiệu trưởng thì “lành” hơn. Có lẽ ông không dạy lớp nào để bọn học trò chúng tôi biết từng cá tính của mỗi thầy. Nhưng, với cương vị là người đứng đầu trường Trung học, và tại Việt Nam mình lúc bấy giờ chức thầy Hiệu trưởng thiệt là oai lắm. Không đợi lâu ông ngước nhìn tôi và bảo “em có kỷ luật nên phải đổi lớp và giờ học”.

Ủa kỷ luật gì vậy ta? Tôi thắc mắc thưa thầy hiệu trưởng cho biết việc em phạm kỷ luật gì? Nhưng thầy bảo cứ thu xếp chuyển lớp và thắc mắc khiếu nại sau. Thế là tôi bị đổi học lớp Việt văn sau buổi trưa và là lớp học Việt văn của cô Tâm. Trở lại lớp, tôi cho sách vở vào “xắc cốt” và im lặng không nhìn ai lầm lũi rời khỏi lớp. Chẳng ai biết tôi đi đâu làm gì và đang bị chuyện gì. Đi ngang bàn của Lệ Thu, tôi đứng lại và nói “anh bị đổi lớp vào buổi chiều, anh chào Lệ Thu nhé”. Nói xong tôi đi một lèo trước con mắt tròn xoe ngạc nhiên của nàng và của bạn hoc cùng lớp. Khi bị đổi “ca lớp” có nghĩa là các môn Anh văn, Việt văn, Toán học, hoá học vạn vật… đều thay đổi hết… vì từ ca học buổi sáng, bây giờ phải qua buổi chiều.

Không cần tìm hiểu, tôi cũng biết đây là cách “đì” tôi của thầy Thanh. Giống như trong quân đội bạn bị chỉ huy “đì” ra đóng quân nơi xa xôi vậy. Tôi biết kêu ai bây giờ, chỉ biết trong xã hội giáo dục của nhà trường Việt Nam là thế. Trái cấm ái tình đã cho tôi nghẹn ngay cổ họng một bài học đầu tiên của đời viết nhạc. Tôi cảm thấy khuôn mặt của mình bị dày lên và tự ái dâng đầy trong phút chốc. Tìm một góc ngồi dưới tàng cây phượng vĩ, tôi lấy tờ nhạc Lệ Thu và xé nát luôn. Tôi không xé vì nàng, bởi Lệ Thu đâu có lỗi gì, mà tôi xé bài nhạc vì cảm thấy mình bị xúc phạm danh dự và người làm thơ không xứng đáng cho tôi bỏ công nắn nón phổ thành ca khúc.

Đó là bài nhạc phổ thơ đầu tiên trong đời viết ca khúc của tôi bị tổn thương. Bạn cũng hiểu cho là vết cắt đầu tiên lúc nào cũng cắt sâu vào tâm hồn ta. Do đo tôi tự nghĩ sẽ không bao giờ phổ thơ cho một bài thơ nào cả cho dù mình có thích mấy bài thơ đó. Hơn nữa, tôi lúc bấy giờ có là cái gì đâu, chỉ là một học sinh như tờ giấy trắng và yêu sự tự nhiên của cái đẹp văn chương thi ca âm nhạc và cả hội hoạ nữa trong đời sống mới lớn của mình. Các chương sau tôi sẽ nói về việc phổ nhạc của một số bài thơ mà sau này tôi đã nổi tiếng và thành nhạc sĩ chuyên nghiệp.

Trong câu chuyện viết nhạc này, nó không phải là hồi ký gì cả, mà nó như một câu chuyện tâm tình… Và tôi cũng muốn chia sẻ những kinh nghiệm, những học hỏi, những va chạm, những hoài mong đến với các bạn đang ấp ủ hay đang chập chững hay đang viết ca khúc từ lòng mình, từ trái tim yêu thương của mình gửi đến cuộc đời này. Bạn cũng thấy, khi những nhạc sĩ thành danh như ông Phạm Duy, như ông Trịnh Công Sơn (và còn nữa một vài nhạc sĩ khác)… Hai ông Phạm Duy và Trịnh Công Sơn đã từng nói “tôi chỉ là người hát rong thôi”. Đó là câu nói khiêm nhường, nhưng không là thế, mà đấy là tôi đến cuộc đời này mang thông điệp yêu thương chia sẻ cho bạn. Hay nói bóng bẩy hơn là tôi đến cuộc đời này như con chim ngứa cổ hót chơi.

Con chim ngứa cổ hót chơi với tiếng hót của hoạ mi, của sơn ca… và đã thành mục tiêu nhắm bắn của thợ săn chính trị, thợ săn thời cơ và thợ săn chủ nghĩa! Bây giờ tôi đã ngộ ra và chia sẻ… nhưng quay trở lại với thời mới lớn mang trong hồn những hy vọng, những khát vọng để làm chim hót vang cho đời sống chung quanh tươi đẹp. Cho dẫu tôi sinh ra và lớn lên trong thời điểm chiến tranh khói lửa ly tan trên đất nước Việt Nam thương yêu.

Trở lại với Lệ Thu kẻo các bạn sẽ thắc mắc sau đó là cái gì? Từ khi tôi xé bản nhạc Lệ Thu vì trong cơn nóng vội tuổi trẻ, tôi có niềm hối hận vì nhớ lại hai chữ tựa Lệ Thu bị xé nát. Nàng đâu có lỗi gì phải không? Nàng chỉ là nhan sắc nên bài thơ và bài nhạc của hai gã đàn ông một thơ một đàn vang lên ca tụng. Tôi không hề có ý định giành nàng từ thầy Thanh của tôi. Đơn giản là nàng có yêu ai đâu, kể cả tôi. Chỉ là cảm tình của thời mới lớn, của lãng mạn thi ca âm nhạc của những giây phút khoảnh khắc tuyệt đẹp thuở học sinh còn mang sách vở đến lớp. Và khi chuyển lớp, tôi đã không còn dịp thấy Lệ Thu mỗi ngày trong lớp học. Lúc nàng rời khỏi lớp cũng là lúc tôi chuẩn bị đến trường.

Một hôm Lệ Thu gặp tôi và báo tin buồn với tôi là gia đình nàng sẽ rời Cam Ranh để vào Saigon. Có lẽ Lệ Thu và tôi sẽ không còn dịp gặp nhau nữa. Tôi nghe Lệ Thu nói mà muốn khóc! Nhớ lại khuôn mặt tôi tái đi và niềm hy vọng tiêu tan như mây khói. Tôi nhìn nàng và rồi tôi khóc. Nước mắt của kẻ có trái tim vội yêu và tràn cảm xúc trào ra. Lệ Thu nắm đôi bàn tay tôi và hỏi “sao anh lại khóc?”. Một câu hỏi cho đến bây giờ tôi còn nhớ. Và tôi không biết trả lời sao, chỉ biết khóc, nước mắt của thiếu niên 17 tuổi nhỏ xuống trong lòng tan nát vụng về. Tôi biết Saigon xa lắm, Lệ Thu sẽ đi xa lắm và rồi tôi không còn gặp Lệ Thu nữa. Đó là những gì tôi có thể nói được với nàng khi từ giã.

Ngày tôi đi ngang khu vườn nhà Lệ Thu thì biết là gia đình nàng đã vào Saigon rồi. Nhìn cây xoài trước ngõ nhà nàng, tôi lại khóc một lần nữa. Đêm về, tôi không kềm được cảm xúc và cảm thấy sao đời sống tuyệt vọng thế, cho dù tôi chưa hề tỏ tình với Lệ Thu, chỉ cái nắm tay, ánh mắt và nụ cười trao nhau rất hồn nhiên trong trắng. Không ai trong bóng đêm thầm lặng như tôi bây giờ, chỉ có tôi và người bạn thân nhất là cây đàn guitar. Tôi ôm đàn vào đôi tay và rải thành tiếng như xua đuổi nỗi tuyệt vọng của kẻ mới biết yêu thì lại mất tình yêu. Nước mắt tôi lại ứa ra vì tôi hiểu tôi là người dễ xúc cảm, tôi muốn xoa dịu và tự an ủi mình, chỉ có cách viết xuống, và tôi tìm giấy bút viết một ca khúc.

“em là cơn gió bay đi muôn trùng

em là mây trắng lênh đênh trời xanh

em là hoang thú đã xa lìa bầy

em là nhan sắc làm anh say đắm…

như tình yêu đó lẻ loi cô độc

em là bóng tối mênh mông đời anh

em là mưa nắng đã qua từng mùa

anh buồn hiu hắt nhớ thương về em

đừng tìm anh, đừng tìm anh nữa em ơi

vì tình anh như chiếc bóng bên đường

tình đã xa, hãy cho qua…

chớ tìm nhau làm gì

đừng tìm anh, đừng tìm anh nữa em ơi

vì tình anh như mây khói tan rồi

mình hãy quên, hãy quên đi

để còn lại đây cuộc tình hôm nay

cho tình yêu mãi ươm mơ đêm về

cho tình thiếu vắng khi anh cần em

cho tình xưa đó mãi quên đường về

em là cơn gió bay đi nghìn thu

Tôi viết xong ca khúc này và hát thật to, vừa hát mà trái tim tôi thổn thức hai hàng lệ rơi. Tôi đặt tựa EM NGHÌN THU GIÓ BAY như muốn gửi cho Lệ Thu đã như cơn gió bay xa khỏi đời tôi. Sau này khi đến Mỹ, khi làm hoà âm tôi đã mời ca sĩ Tuấn Ngọc diễn tả cho tôi.

Bỏ nước ra đi

Ngày 16 tháng 5 năm 1980, tôi xuống thuyền vượt biển vào một đêm tối tại cầu xóm Bóng Nha Trang. Sau 3 ngày 4 đêm lênh đênh trên biển, cuói cùng tàu Tây Đức đã vớt chúng tôi giữa biển khơi. Bây giờ tôi đứng trên boong tàu Melbourne Express của Tây Đức (West Germany) nhìn từng đợt sóng nhấp nhô. Kể từ khi được vớt, hôm nay là ngày thứ hai tôi có mặt trên chiếc tầu buôn này. Cuộc vượt biển thành công, chúng tôi khoảng 50 người đi từ thành phố Nha Trang và sau 3 ngày 4 đêm thì được gặp con tàu cứu tinh này. Bây giờ tôi nhớ lại rất rõ khoảnh khắc tự do thực sự khi được tàu Tây Đức vớt giữa biển khơi. Đó là một cảm giác như chạm đến ngưỡng của Thiên Đàng. Thuở bé trò chơi ở làng quê:

“Thiên đàng hoả ngục

ai khôn thì dại

ai dại thì khôn

đêm nằm nhớ Chúa nhớ cha

đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn…”

Chỉ biết hoả ngục là nơi khổ luỵ vì mình bị đoạ đày. Thiên Đàng là nơi ánh sáng và hạnh phúc chói loà sung sướng quá chừng. Đó là ý nghĩ khi còn bé như thế, do vậy tôi đang sống với cảm giác khi nghĩ đến Thiên Đàng là đây. Đó là không ai có thể tưởng tượng được có ngày mình sẽ thoát ra khỏi đất nước khổ sở sau năm 1975, ngày mà Mỹ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam một cách không thương tiếc! Tôi đã có 5 năm sống với chế độ mới với 3 năm tù và 2 năm trôi nổi thân dâu biển từ thể xác đến tinh thần.

Đứng trên cao của boong tầu như đứng trên một toà nhà 10 tầng nhìn xuống thăm thẳm màu xanh của biển khơi. Nhìn xa tít vẫn là một mầu nước trùng điệp, và tôi biết chúng tôi đã xa rời đất nước và bỏ lại quê hương rồi. Tàu rẽ sóng phăng phăng đi ào ào như một toà nhà khổng lồ di động. Lúc còn kẹt lại Việt Nam, mỗi đêm tôi đã nghe Radio Đài VOA (Voice of American) là đài Tiếng nói Hoa Kỳ phát thanh từ Hoa Thịnh Đốn, tôi đã ước ao mình có mặt trên các bản tin về các con thuyền tị nạn được vớt giữa biển khơi, và tôi thầm nghĩ giá mình là một trong số những người may mắn đó.

Thế nhưng bây giờ những ước mơ đó đã thành hiện thực. Tôi đã sống, đã còn sống và sống tự do, không còn phải lo sợ, không còn phải lo thiếu ăn sót mặc như trước đây mấy ngày nữa. Vui tràn ngập, nhưng nỗi buồn cũng nằng nặng trong tâm trí mình. Tôi nghĩ ai ra đi một thân một mình cũng mang tâm trạng như tôi, đó là bỏ lại sau lưng tất cả những kỷ niệm, bạn bè, xóm làng và người thân yêu của mình.

Qua ngày hôm sau, tàu cập bến Hồng Kong. Chúng tôi buộc phải rời tàu Tây Đức và tạm trú trại tị nạn để thanh lọc trước khi cho phép định cư ở nước chấp nhận mình. Trại tị nạn HongKong là dãy trại lớn dài san sát và bao quanh bởi những rào kẽm gai cao vút. Nó giống như một trại tù lớn và các con tàu khi vớt người thường mang thuyền nhân vào đây sống một thời gian trước khi họ nhận cho vào nước mình. Do vậy người Viêt tị nạn may mắn sống sót sau chuyến hải hành trong trại tị nạn rất đông và họ sống theo từng vùng, từng trại được xây cất trên mảnh đất tạm trú của HongKong.

Vài ngày sau khi nhập trại, đêm đến thật là buồn. Nhất là những ai ra đi một thân một mình như tôi. Trong trại, người đến trước đây, đêm về cũng có những sinh hoạt với nhau, nhóm này tụm lại ca hát, nhóm kia thì đánh cờ tướng và có những người lang thang trên con đường nhỏ trong trại cho đỡ buồn. Tôi nhập bọn vào nhóm có đàn guitar. Đó là một nhóm người Việt tàu vớt ngang Vũng Tàu, và không biết cách nào họ lại có cây đàn guitar mang theo. Hò hát đàn vang, và tiếng hát, tiếng cười vui rộn rã như tạm quên đi nỗi buồn viễn xứ bắt đầu trong đời sống mình.

Tôi làm quen và sau đó tình nguyện đàn cho một vài người hát. Thế là họ cảm tình ngay với sinh hoạt của tôi, vì ai hát tôi cũng đệm đàn, và khi họ nghe tôi hát thì cảm tình của họ lại nhiều hơn, anh chàng thanh niên chủ cây đàn quấn lấy tôi và xin chỉ giáo vài đường guitar. Như thế tôi cũng có thể mượn cây đàn để đêm đến là mình khuây khoả nỗi buồn. Nhớ lại những lúc lo âu trước sóng to gió lớn, cái chết cầm chắc trong tay một nửa rồi. Nhớ lại những lúc đêm tôi phải đón xe bộ đội trên quốc lộ 1 từ Saigon chạy ra Hà nội để mua từng can dầu.

Khi nhà cầm quyền mới lấy được miền Nam Việt Nam. Chính sách kinh tế tập trung trong tay Đảng Cộng sản, do vậy tất cả xăng dầu bị tịch thu và quản lý, các cửa khẩu ra biển bị đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ, ngành ngư nghiệp đánh bắt cá bị quốc doanh và các thuyền bè phải vào tổ chức gọi là hợp tác xã, mỗi lần ngư dân ra biển để đánh bắt cá, phải khai trình và số lượng nhiên liệu được kiểm soát vừa đủ cho thời gian tàu thuyền chạy ra bao nhiêu hải lý, và vừa đủ để chạy trở vào sau bao nhiêu ngày được phép. Việc kiểm soát chặt chẽ này nhằm khống chế sự vượt biển tìm tự do của người dân Việt Nam.

Tôi đã tìm cách vượt biển sau khi từ trại cải tạo trở về. Vượt biển khó lắm, vì cần có ít nhất là 3 đến 5 lượng vàng, có chỗ còn phải trả cao hơn nữa. Nhưng tôi đã lấy công sức bằng cách tình nguyện mua dầu để đổi được chuyến đi. Dầu là nhiên liệu cần thiết cho chuyến hải hành, ít ai dám nhận việc mua dầu, vì nguy hiểm. Mua từ các tài xế bộ đội cộng sản, và mua phải vào ban đêm. Vì các tổ hợp có ghe thuyền bị quản lý chặt chẽ, nhưng vẫn có những móc nối để chuyến vượt biển ra đi. Và cần nhất là nhiên liệu, dầu không thể chứa dưới khoang thuyền, vì ra cửa khẩu sẽ bị kiểm soát tìm thấy và bị bắt ngay, do vậy, dầu phải có và chứa ở một nơi, đó là chôn dưới lớp cát dọc bãi biển, và ban đêm, khi tàu đánh cá được phép ra khơi sẽ quay thuyền ngược lại vào bờ bãi đào cát lên là nơi chôn dấu nhiên liệu dầu, lấy số dầu và ra đi.

Vì không có vàng, tôi xin nhận làm công mua dầu, gánh dầu ra bãi để chôn dấu. Qua sự giới thiệu của một người quen, tôi đến nhà ông Hai Khi, là chủ ghe của một hợp tác xã, vì bị trưng thu vào hợp tác xã, nhưng chủ ghe vẫn được dùng lại như là công nhân của nhà nước cộng sản để điều hành chiếc ghe đánh cá của mình. Ông Hai Khi là dân Nghệ An, di cư vào Nam năm 1954, hành nghề biển suốt cả đời mình. Tôi được ông giao tiền chỉ đủ mua cho từng đêm số dầu cần phải có. Và ông hứa là, tôi sẽ được có mặt trên chiếc ghe của ông khi có đủ dầu.

Mỗi đêm, tôi nằm thoai thoải dưới quốc lộ 1, (con đường từ Nam ra Bắc) ở làng Hộ Diêm, thị xã Phan Rang Tỉnh Ninh Thuận. Mỗi khi có ánh đèn xe Molotova (loại quân xa của quân đội miền Bắc) chiếu từ xa, là tôi nhảy lên đứng cạnh lề đường, tay phải đưa can dầu bằng nhựa lên cao, tay trái kia đưa ống hút dầu vẫy lia lịa để tài xế xe thấy mình muốn mua dầu. Các tài xế cán binh cộng sản rất thích bán dầu để lấy thêm tiền tiêu xài, vì lương lính của họ rất ít. Dừng lại, nhảy xuống xe họ hét lớn: “tiền đâu”, trao tiền nhanh, họ lấy can đựng dầu đặt xuống đất, thọc ống hút vào bình xăng dầu của xe, và tôi kê mồm hút cho dầu chảy vào can đựng. Vì lo bị bắt gặp, người mua và kẻ bán đều sợ, do vậy họ thường hối thúc “nhanh lên, đủ rồi”. Mỗi lần hút dầu từ thùng xe, dầu bắn đầy mặt tôi, áo quần hôi mùi dầu nồng nặc, đã thế dầu còn vào cuống họng làm tôi muốn ói mửa, lảo đảo vì bị nhức đầu.

Cứ như thế suốt đêm, từ 12 giờ khuya “hành nghề” cho đến 3 giờ sáng, là tôi và một người bạn thân (tên L.) phải gánh dầu ra bãi biển để chôn dấu. Mỗi can dầu chứa được 20 lít, gánh hai can là 40 lít, và hai người gánh được 80 lít cho mỗi đêm. Một chiếc ghe muốn đi từ cửa biển Tân An, Phan Rang đến đảo Palawan Phi Luật Tân, cần phải có đủ 600 lít dầu, và mua khoảng 10 ngày là có đủ dầu để bắt đầu cho chuyến vượt biển. Nhưng bạn ơi! Nhiều lúc mua dầu, chôn dầu xong thì phải chờ ghe, và xui xẻo, bãi dầu của mình bị phát hiện, bị đánh cắp, bị tịch thu. Rồi phải làm lại từ đầu.

Nhớ lại gánh dầu ra biển, tôi đã phải gánh 40 lít dầu nặng trĩu trên thân thể ốm yếu, còm cõi để băng qua một đám ruộng dài. Hộ Diêm là một làng nông, đa phần dân công giáo, và các thửa ruộng nằm sát quốc lộ 1. Tôi phải chật vật, khéo léo để các thùng dầu không bị vỡ mỗi lần té xuống, chỉ vì đường bờ ruộng quanh co, nhỏ bé, vừa đủ cho một người đi, mà lại đi trong đêm tối đen, thỉnh thoảng bị sụp lỗ ruộng, là cái lỗ thông qua các ruộng lúa với nhau. Con đường ruộng khó đi trong đêm tối, lại phải đi thật nhẹ để không gây tiếng động, vì sợ bất trắc xảy ra, nếu có ánh đèn pin quét lên là họ sẽ tri hô mình đi ăn trộm lúa, và mình sẽ bị bắt, tống giam trong tù ngục xã hội chủ nghĩa vì âm mưu vượt biển.

Nhưng cuộc vượt biển lại bất thành, vì dầu bị ai đó lấy mất. Sau này, tôi được Thái Thu Cúc, một cô bạn gái quen trong các chuyến vượt biển trước bất thành, dù thời gian ngắn gặp nhau, nhưng Cúc và tôi đã yêu nhau. Cúc đã nhắn tin cho tôi đến nhà nàng ở Nha Trang và giới thiệu với bố mẹ nàng bảo đảm cho tôi có một chỗ ngồi trong chuyến ghe vượt biển sắp khởi hành nay mai. Tình yêu trên hết, nàng đã giúp tôi ra đi từ cầu Xóm Bóng Nha Trang ngày 16 tháng 5, 1980.

Tôi nghĩ đến Cúc, và viết cho nàng, dù Cúc giúp tôi thành công vượt biển, nhưng Cúc đã không may mắn, nàng kẹt lại từ đó cho đến bây giờ

“đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn

anh chôn, chôn hết cả những gì của yêu thương

anh chôn, chôn mối tình chúng mình

gởi lại em trăm nhớ ngàn thương

hò ơi tạm biệt nước non

đêm nay, đêm tối trời anh bỏ quê hương

ra đi trên chiếc thuyền hy vọng vượt trùng dương

em đâu, đâu có ngờ đêm buồn

bỏ lại em cay đắng thật thương

hò ơi tạm biệt nước non

anh phải bỏ đi thắp lên ngọn lửa hy vọng

anh phải bỏ đi để em còn sống

anh phải rời xa Mẹ Việt Nam đau đớn

quê mình giờ đây em gắng đợi chờ

anh tạm rời xa nước non mình yêu kiều

phố phường thân yêu người quen hàng xóm

mong vượt biển đông mà lòng anh tan nát

núi rạng mờ xa ôi ngon núi ở quê hương

đêm nay anh gánh dầu ra biển anh đi

ghe đi trên sóng cuồng thấy gì ở quê hương

xa xa ôi núi mờ xa dần

giọt nước mắt khóc cho phận thân

hò ơi phận kẻ lưu vong

đêm nay trên bản đồ có một thuyền ra đi

hiên ngang trên sóng gào tự do đón chào

xin chào tự do với nỗi niềm cay đắng

nhìn lại nước non mình

môi mặn khóc nghẹn ngào

hò ơi tạm biệt nước non”

Khi viết bài hát này là tôi thả hết nỗi lòng của mình ra trong nước mắt đêm khuya ở trại tị nạn. Ca khúc viết theo thể loại ngũ cung. Nhạc ngũ cung không chỉ riêng Việt Nam mình mà nó cũng phổ quát ở nét dân ca vùng Celtic, ở Hungary và một vài nét trong dân ca Hoa Kỳ nữa. Nói một chút để bạn hiểu sao lại là ngũ cung. Tân nhạc nguồn từ Tây phương với 7 nốt nhạc : “đồ, rê, mi, fa, sol, la, si”. Ngũ cung là 5 nốt nhạc “đồ rề fa, sol, la”. Dân ca Việt Nam từ miền Trung, nhất là Huế trở ra ngoài Nghệ An Hà Tĩnh là các câu hò mang âm hưởng ngũ cung hồn nhạc quê hương. Nó bắt nguồn từng giọng nói đặc thù của vùng miền qua đến ca dao và các điệu hò ru.

Tôi đã chêm vào câu hò ơi là tiếng hò vang vọng của mẹ ru con. Tiếng hò của mái chèo khua nước trên giòng Hương Giang. Tiếng hò gọi nhau của thanh niên thiếu nữ trong mùa gặt rộn rã thứ hạnh phúc dân quê trong câu hò điệu nhạc ngày mùa.

Trong ca khúc “Cay Đắng Bờ Môi” của tôi cũng thế, nét ngũ cung bàng bạc khi tôi viết ca khúc này. “Ra đi tôi nhớ thương người. Nghẹn ngào cay đắng bờ môi…” Là tiếng lòng tôi nhắn gửi đến Cúc.

Tôi có 4 ca khúc ngũ cung viết ra, nhưng hai ca khúc Đêm Chôn Dầu Vượt Biển và Cay Đắng Bờ Môi là hai bản ngũ cung được hát trước và được biết đến.

Trở lại câu chuyện viết ca khúc Đêm Chôn Dầu Vượt Biển là tôi viết câu chuyện thật của đời mình, mà cũng là câu chuyện đồng cảm số phận của rất nhiều thuyền nhân tị nạn bỏ nước ra đi. Lạ một cái là khi viết xong bài hát này, tôi đã không hề hát cho ai nghe tại HongKong. Tôi không muốn phải khóc khổ luỵ vì mỗi khi hát bài hát này. Vì tôi biết nỗi niềm rưng rưng sẽ tràn ngập khi số phận tôi và ca khúc gắn liền với nhau trong những giờ khắc sinh tử biệt ly. Tôi đã cất giữ bài hát Đêm Chôn Dầu Vượt Biển và Cay Đắng Bờ Môi cho đến khi định cư tại Mỹ.

Song Mỹ, nơi tuổi thanh xuân

Các cụ bảo “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nghĩa là có một nghề trong tay thì không phải lo cho cái thân. Nhưng làm sao để… thực sự biết mình có một cái nghề?

Tôi đã làm đủ thứ nghề để sống, từ thuở bé 14 tuổi đã vác cái bao bị trên vai, đi khắp Saigon để mua “hàng”, đó là mua các sách báo cũ đóng mực tím, các bao nilon nhỏ mầu trắng, bên trong chứa hình các ca sĩ nổi tiếng thời bấy giờ những năm 1968, 1969, như Hùng Cường, Bạch Tuyết… dính đầy đường cát, từ những hạt me sấy khô, để mang về bán ở sạp hàng của bác tôi dựng nên, dọc theo đường nhỏ dẫn vào Trường Trung Học Nguyễn Duy Khang ở Thị Nghè, Gia Định.

Rồi từ khi bác tôi bỏ Sàigòn ra thị xã Cam Ranh định cư theo lời rủ rê của một người bạn. Mang tiếng thị xã, nhưng chúng tôi nào có ở ngay thị xã đâu. Bác tôi, đưa các con, các cháu về xin miếng đất ở Hoà Yên, Cam Ranh, lúc này có xứ đạo mang tên Hoà Yên, có lẽ hai chữ Tuy Hoà, Phú Yên ghép lại, nằm cạnh xứ đạo Hoà Nghĩa, do hai chữ Tuy Hoà và Quảng Ngãi (Nghĩa) ghép lại.

Đây là hai xứ đạo đa phần nông dân, sinh sống bằng nghề làm rẫy, hái củi và làm lò gạch, lò than. Đến năm 1971 khi quân đội Mỹ đến ồ ạt trú đóng ở Cam Ranh thì hai xứ này nói riêng của cái cảng Cam Ranh, bỗng khá lên nhờ đi làm cho các căn cứ quân sự của Mỹ.

Tôi cũng đã vào làm trong căn cứ quân sự Mỹ với “nghề” cargo checker, nôm na là kiểm hàng. Lúc này tôi được ông V V B, lúc đấy làm Phó cho ông P Q Hoa, Tổng Giám Đốc Central of Navigation Trading, Co. Bác B. thương gia đình tôi khó nghèo, thu nhận vào làm cho công ty mà vốn liếng Anh ngữ của tôi nghèo nàn và sai văn phạm. Nhưng, việc kiểm hàng từ tàu thuỷ cập bến không cần nói giỏi tiếng Anh, có phải ngồi phòng hành chính đâu. Làm ban đêm từ 8 giờ tối đến 5 giờ sáng. Những chiếc tàu thuỷ to lớn như SeaLand cập cảng CamRanh đưa hàng hoá xuống bến, tôi chỉ ngồi một chỗ, nhìn vào tờ giấy, gạch một gạch khi cần cẩu đưa kiện hàng xuống bến cảng.

Những đêm khuya, tôi leo xuống hầm tàu rộng mênh mông kiểm hàng, nhìn những hộp đạn, những quả bom tháo ngòi nằm đầy hầm tàu chuẩn bị xuống cảng. Tôi hiểu cách mơ hồ, bom đạn Mỹ đưa vào quê hương tôi với một cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản đang bành trướng từ Nga, Tàu, và bây giờ là một nửa nước Việt Nam. Dù sao thì cũng là bom đạn của hai bên trong chiến tranh tàn phá quê hương mình…

Sau này 1972, tôi theo gia đình bác đi khẩn hoang lập ấp ở Song Mỹ, Ninh Thuận. Chương trình này do bác sĩ Phan Quang Đán làm Quốc Vụ Khanh đặc trách. Lúc đến khẩn hoang, thì đấy là cánh rừng hoang vắng, cây cối tiêu điều xác xơ. Song Mỹ là cái thôn được lập nên từ chương trình khẩn hoang lập ấp, nằm bên quốc lộ đi Đà Lạt, gần dưới chân đèo Sông Pha. Tôi lại thêm một “nghề” mới nữa là làm rẫy. Muốn làm rẫy thì phải “phá” rừng. Những cánh rừng non, rừng rậm, với bàn tay của con người, thì vài năm sau đã trống trãi những thửa đất. Thế là… một người “văn nghệ văn gừng” như tôi, lại có thể làm rẫy, đốn củi, làm lò than, làm lò gạch rất vất vả trần gian cát bụi.

Cái khổ vì thiếu ăn, vì thiếu mặc, nó khiến con người ta làm đủ nghề ngỗng, ta gọi là thợ đụng, nghĩa là đụng đâu làm đó. Chính vì cái đụng đâu làm đó mà bây giờ ứng dụng vào trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh của tôi khá hữu hiệu.

Mỗi ngày, khi đi làm rẫy là phải xắn quần, nhiều khi con nước trên đầu nguồn chảy ồ ạt xuống, thế là… cởi quần, vắt trên vai để bơi qua một con sông, tên là sông “Ông”. Chẳng hiểu sao lại mang cái tên này, dòng nước sông chảy xiết, vì nước từ núi Sông Pha chảy xuống, những lúc mưa lớn là ở nhà, chẳng dám băng sông làm rẫy. Vậy mà cũng có số trẻ em thiệt mạng khi băng sông đi làm, trong đó có người chị, con của bà cô tôi chết đuối thảm thương.

Song Mỹ là nơi tuổi thanh niên tôi lớn lên, khổ, và dĩ nhiên buồn nhiều hơn vui. Quanh năm hai mùa mưa nắng gay gắt và thiên tai luôn mất mùa tạo cho đời sống khó khăn, vậy mà người ta vẫn sống lây lất và tuổi tôi vẫn hồn nhiên ca hát, tôi thường la cà với chúng bạn khi đêm xuống.

Chính ở đây, tôi có những người bạn tình cờ gặp nhau, chia sẻ buồn vui, trong đó có người anh và là người bạn lớn của tôi ngày xưa gọi là Thầy Linh, và bây giờ là Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận Huế. Đức Cha Nguyễn Chí Linh, cựu Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam của giáo hội Công giáo. Rồi người bạn thân là Lợi (Đại), lại có thêm thằng Thái, là thằng em của Lợi mà mỗi khi chúng tôi ba người, Thầy Linh, Lợi và tôi ngồi nhậu bàn chuyện “chính trị sa lông”, là thằng Thái ngồi vểnh tai nghe. Tôi cũng thương thằng Thái này, nó nhỏ mà lanh như con sóc, mỗi khi hết rượu hay hết thuốc lá, tôi móc túi đưa tiền và chai xá xị không, để nó phóng đi mua rượu, là nó xẹt một cái biến mất, và nhanh như chớp nó mang về xị rượu đế cho 3 anh em chúng tôi nhậu tiếp, và nó tiếp tục vểnh tai ngồi chầu rìa nghe 3 ông anh lớn bàn chuyện thời sự, bàn chuyện văn nghệ và bàn chuyện tào lao…

Thằng Thái ngày xưa bé nhỏ gầy như con cò ma có đôi chân khẳng khiu và cái miệng luôn cười tươi, bây giờ trở thành một “đại gia” ngành Nails, đó là nghề móng tay tại Houston, Texas Hoa Kỳ. Nó hiện đang làm chủ một hệ thống Nails rất lớn mang tên Nails of American và Millano Nails Spa, hệ thống của nó lên đến gần 100 tiệm Nails , mà tiệm nào cũng lớn như cái nhà kho, có tiệm hơn 100 thợ làm việc.

Thế đó, thôn Song Mỹ hiền hoà nghèo nàn đã có thời thanh xuân của tôi nơi đó, và cũng từ Song Mỹ mà nhìn lại có Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Chí Linh (tôn giáo), nhạc sĩ Châu Đình An (âm nhạc) và Trần Thái CEO của hệ thống Nails of American và Millano (kinh doanh). Nhắc điều này là nói theo ý nghĩ của Trần Thái mỗi khi em nó hay đùa nói với tôi Song Mỹ “địa linh nhân kiệt”. Mà kiệt sức, kiệt quệ ở mảnh đất nhỏ bé này!

Cái thôn nhỏ bé Song Mỹ, lúc đầu không có ánh điện, nhà nhà xài đèn dầu, và những đêm trăng thì dọc theo đường cái, trai “thanh” gái “lịch” ngồi tụm năm tụm ba. Niềm vui chỉ có thế thôi ở một nơi cách xa hào nhoáng của thành phố. Tôi đã thực sự sống và làm việc ở thôn quê nhiều nhất trong cuộc sống mới lớn của mình.

Mà đâu phải dừng lại ở đấy.

Tôi cũng đã làm nghề “làm muối” ở Phương Cựu, Phan Rang, Ninh Thuận. Làm muối khổ nhất. Đứng dang nắng cả ngày dưới ánh nắng gay gắt chói chang, nhất là gánh đất sét để đắp bờ ruộng, có bờ cao, bờ thấp, nhưng nhiều khi cái bờ nào cũng dài ngoằn ngoèo. Rồi còn phải cầm chày vồ nện đất cho rắn lại, nhằm giữ nước biển khi cho vào ruộng muối không bị rò rỉ ra ngoài. Quên! Làm lò than khi khui lò lấy than thì… mới kinh hoàng! Bao tải xanh thấm nước ướt đẫm để trên vai, chui vào lò mới dở đất sét đắp cửa lò ra, từng thanh củi thành than còn nóng vác trên vai. Tôi vác than chừng 15 phút là ná thở, khạc nhổ ra cả chục bãi nước miếng đầy bụi than đen ngòm.

Vui nhất là làm ruộng. Trước khi làm ruộng ta vét mương để đưa nước trên nguồn về. Cày cho vỡ đất ra, phơi ải vài nắng, sau đó cho nước vào ruộng, ngâm chừng vài hôm là bắt đầu “cày, bừa, thá, ví, trục, trạc”. Lúa cho vào bao ngâm dưới mương, chừng vài ba hôm là lúa chớm mộng. Gieo mầm lúa, chừng một tuần sau, mạ non xanh ngắt trong ánh nắng mai, tôi nghĩ đến những tháng ngày hạnh phúc, khi mồm ngậm thuốc lá phì phèo, tay chống cuốc nhìn những dòng nước chảy lăn tăn vào ruộng. Những thửa ruộng nối liền với nhau bằng những cái bờ nho nhỏ chạy dài tận chân núi mờ xa, giống như một bức tranh chấm phá nhiều mầu sắc tuyệt đẹp.

Mùa gặt thì thú vị nhất trên đời. Những lúc trúng mùa, một hécta, tức là một mẫu ruộng nếu gặt được 80 giạ lúa là mừng húm. Vui nhất là khi lúa đổ đống trên nhã lúa, chiếc xe máy cày chạy ào ào trên nhã lúa cho hạt lúa rụng khỏi thân cây lúa. Thế rồi đêm xuống, khi trời mát, ánh đèn “măng sông” thắp lên chiếu sáng, chúng tôi, những thanh niên khoẻ mạnh chia làm 4 toán. Toán thứ nhất đứng sát bên trong dùng chảng ba, loại bò cào có thanh tre gắn chỉa ba như của Trư Bát Giới trong truyện Tề Thiên Đại Thánh, dùng chỉa ba để xốc lúa.

Lúc này thân lúa và hạt lúa ban ngày do máy cày đạp quyện vào nhau đè lẫn lộn do vậy nặng lắm, cần có sức của thanh niên khoẻ. Toán một, dùng chỉa ba xốc lên thì các hạt lúa rơi xuống và họ hất xác cây lúa ra phía sau, để toán hai làm lại, và toán hai hất xác cây lúa ra toán ba, cứ thế toán thứ tư hất xác cây lúa không còn hạt lúa ra ngoài cùng. Suốt đêm, đến giữa khuya là có cả một đống rơm cao như đồi nhỏ che khuất bên này, bên kia. Giữa sân còn lại đống lúa vàng lóng lánh dưới ánh trăng.

Bọn chúng tôi thanh niên thanh nữ thay vì đi ngủ như các cụ, thì rủ nhau chơi trò trốn tìm, trò chơi đếm “năm ,mười, mười lăm, hai mươi…” và đi trốn. Tôi láu cá đang khi đếm, thì hai tay che mặt, nhưng hé mắt thấy em thôn nữ mà tôi thích chạy trốn trong đống rơm nào, là tôi làm bộ đi tìm và lao vào trong đống rơm với em, bắt được nhau cười khúc khích, vui ơi là vui, thú ơi là thú. Niềm vui của tuổi thanh xuân đồng quê quả thực mộc mạc, hồn nhiên và đầy chân chất của một cái nghề chẳng ra nghề…

(sẽ kể tiếp kỳ tới)

Trending

Discover more from Nhạc sĩ Châu Đình An

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading

Exit mobile version