NHẠC (kỳ 6)
Châu Đình An
Các cụ bảo “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nghĩa là có một nghề trong tay thì không phải lo cho cái thân. Nhưng làm sao để… thực sự biết mình có một cái nghề?
Tôi đã làm đủ thứ nghề để sống, từ thuở bé 14 tuổi đã vác cái bao bị trên vai, đi khắp Saigon để mua “hàng”, đó là mua các sách báo cũ đóng mực tím, các bao nilon nhỏ mầu trắng, bên trong chứa hình các ca sĩ nổi tiếng thời bấy giờ những năm 1968, 1969, như Hùng Cường, Bạch Tuyết… dính đầy đường cát, từ những hạt me sấy khô, để mang về bán ở sạp hàng của bác tôi dựng nên, dọc theo đường nhỏ dẫn vào Trường Trung Học Nguyễn Duy Khang ở Thị Nghè, Gia Định.
Rồi từ khi bác tôi bỏ Sàigòn ra thị xã Cam Ranh định cư theo lời rủ rê của một người bạn. Mang tiếng thị xã, nhưng chúng tôi nào có ở ngay thị xã đâu. Bác tôi, đưa các con, các cháu về xin miếng đất ở Hoà Yên, Cam Ranh, lúc này có xứ đạo mang tên Hoà Yên, có lẽ hai chữ Tuy Hoà, Phú Yên ghép lại, nằm cạnh xứ đạo Hoà Nghĩa, do hai chữ Tuy Hoà và Quảng Ngãi (Nghĩa) ghép lại.
Đây là hai xứ đạo đa phần nông dân, sinh sống bằng nghề làm rẫy, hái củi và làm lò gạch, lò than. Đến năm 1971 khi quân đội Mỹ đến ồ ạt trú đóng ở Cam Ranh thì hai xứ này nói riêng của cái cảng Cam Ranh, bỗng khá lên nhờ đi làm cho các căn cứ quân sự của Mỹ.
Tôi cũng đã vào làm trong căn cứ quân sự Mỹ với “nghề” cargo checker, nôm na là kiểm hàng. Lúc này tôi được ông V V B, lúc đấy làm Phó cho ông P Q Hoa, Tổng Giám Đốc Central of Navigation Trading, Co. Bác B. thương gia đình tôi khó nghèo, thu nhận vào làm cho công ty mà vốn liếng Anh ngữ của tôi nghèo nàn và sai văn phạm. Nhưng, việc kiểm hàng từ tàu thuỷ cập bến không cần nói giỏi tiếng Anh, có phải ngồi phòng hành chính đâu. Làm ban đêm từ 8 giờ tối đến 5 giờ sáng. Những chiếc tàu thuỷ to lớn như SeaLand cập cảng CamRanh đưa hàng hoá xuống bến, tôi chỉ ngồi một chỗ, nhìn vào tờ giấy, gạch một gạch khi cần cẩu đưa kiện hàng xuống bến cảng.
Những đêm khuya, tôi leo xuống hầm tàu rộng mênh mông kiểm hàng, nhìn những hộp đạn, những quả bom tháo ngòi nằm đầy hầm tàu chuẩn bị xuống cảng. Tôi hiểu cách mơ hồ, bom đạn Mỹ đưa vào quê hương tôi với một cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản đang bành trướng từ Nga, Tàu, và bây giờ là một nửa nước Việt Nam. Dù sao thì cũng là bom đạn của hai bên trong chiến tranh tàn phá quê hương mình…
Sau này 1972, tôi theo gia đình bác đi khẩn hoang lập ấp ở Song Mỹ, Ninh Thuận. Chương trình này do bác sĩ Phan Quang Đán làm Quốc Vụ Khanh đặc trách. Lúc đến khẩn hoang, thì đấy là cánh rừng hoang vắng, cây cối tiêu điều xác xơ. Song Mỹ là cái thôn được lập nên từ chương trình khẩn hoang lập ấp, nằm bên quốc lộ đi Đà Lạt, gần dưới chân đèo Sông Pha. Tôi lại thêm một “nghề” mới nữa là làm rẫy. Muốn làm rẫy thì phải “phá” rừng. Những cánh rừng non, rừng rậm, với bàn tay của con người, thì vài năm sau đã trống trãi những thửa đất. Thế là… một người “văn nghệ văn gừng” như tôi, lại có thể làm rẫy, đốn củi, làm lò than, làm lò gạch rất vất vả trần gian cát bụi.
Cái khổ vì thiếu ăn, vì thiếu mặc, nó khiến con người ta làm đủ nghề ngỗng, ta gọi là thợ đụng, nghĩa là đụng đâu làm đó. Chính vì cái đụng đâu làm đó mà bây giờ ứng dụng vào trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh của tôi khá hữu hiệu.
Mỗi ngày, khi đi làm rẫy là phải xắn quần, nhiều khi con nước trên đầu nguồn chảy ồ ạt xuống, thế là… cởi quần, vắt trên vai để bơi qua một con sông, tên là sông “Ông”. Chẳng hiểu sao lại mang cái tên này, dòng nước sông chảy xiết, vì nước từ núi Sông Pha chảy xuống, những lúc mưa lớn là ở nhà, chẳng dám băng sông làm rẫy. Vậy mà cũng có số trẻ em thiệt mạng khi băng sông đi làm, trong đó có người chị, con của bà cô tôi chết đuối thảm thương.
Song Mỹ là nơi tuổi thanh niên tôi lớn lên, khổ, và dĩ nhiên buồn nhiều hơn vui. Quanh năm hai mùa mưa nắng gay gắt và thiên tai luôn mất mùa tạo cho đời sống khó khăn, vậy mà người ta vẫn sống lây lất và tuổi tôi vẫn hồn nhiên ca hát, tôi thường la cà với chúng bạn khi đêm xuống.
Chính ở đây, tôi có những người bạn tình cờ gặp nhau, chia sẻ buồn vui, trong đó có người anh và là người bạn lớn của tôi ngày xưa gọi là Thầy Linh, và bây giờ là Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận Huế. Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, cựu Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam của giáo hội Công giáo. Rồi người bạn thân là Lợi (Đại), lại có thêm thằng Thái, là thằng em của Lợi mà mỗi khi chúng tôi ba người, Thầy Linh, Lợi và tôi ngồi nhậu bàn chuyện “chính trị sa lông”, là thằng Thái ngồi vểnh tai nghe. Tôi cũng thương thằng Thái này, nó nhỏ mà lanh như con sóc, mỗi khi hết rượu hay hết thuốc lá, tôi móc túi đưa tiền và chai xá xị không, để nó phóng đi mua rượu, là nó xẹt một cái biến mất, và nhanh như chớp nó mang về xị rượu đế cho 3 anh em chúng tôi nhậu tiếp, và nó tiếp tục vểnh tai ngồi chầu rìa nghe 3 ông anh lớn bàn chuyện thời sự, bàn chuyện văn nghệ và bàn chuyện tào lao…
Thằng Thái em tôi ngày xưa bé nhỏ gầy như con cò ma có đôi chân khẳng khiu và cái miệng luôn cười tươi, bây giờ trở thành một “đại gia” ngành Nails, đó là nghề móng tay tại Houston, Texas Hoa Kỳ. Em Thái hiện đang làm chủ một hệ thống Nails rất lớn mang tên Nails of American và Millano Nails Spa, hệ thống của em nó lên đến gần 100 tiệm Nails , mà tiệm nào cũng lớn như cái nhà kho, có tiệm hơn 100 thợ làm việc.
Thế đó, thôn Song Mỹ hiền hoà nghèo nàn đã có thời thanh xuân của tôi nơi đó, và cũng từ Song Mỹ mà nhìn lại có Đức Tổng Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh (tôn giáo), nhạc sĩ Châu Đình An (âm nhạc) và Trần Thái CEO của hệ thống Nails of American và Millano (kinh doanh). Nhắc điều này là nói theo ý nghĩ của Trần Thái mỗi khi em nó hay đùa nói với tôi Song Mỹ “địa linh nhân kiệt”.
Tôi nói với Thái đó là kiệt sức, kiệt quệ ở mảnh đất nhỏ bé này!
Cái thôn nhỏ bé Song Mỹ, lúc đầu không có ánh điện, nhà nhà xài đèn dầu, và những đêm trăng thì dọc theo đường cái, trai “thanh” gái “lịch” ngồi tụm năm tụm ba. Niềm vui chỉ có thế thôi ở một nơi cách xa hào nhoáng của thành phố. Tôi đã thực sự sống và làm việc ở thôn quê nhiều nhất trong cuộc sống mới lớn của mình.
Mà đâu phải dừng lại ở đấy.
Tôi cũng đã làm nghề “làm muối” ở Phương Cựu, Phan Rang, Ninh Thuận. Làm muối khổ nhất. Đứng dang nắng cả ngày dưới ánh nắng gay gắt chói chang, nhất là gánh đất sét để đắp bờ ruộng, có bờ cao, bờ thấp, nhưng nhiều khi cái bờ nào cũng dài ngoằn ngoèo. Rồi còn phải cầm chày vồ nện đất cho rắn lại, nhằm giữ nước biển khi cho vào ruộng muối không bị rò rỉ ra ngoài. Quên! Làm lò than khi khui lò lấy than thì… mới kinh hoàng! Bao tải xanh thấm nước ướt đẫm để trên vai, chui vào lò mới dở đất sét đắp cửa lò ra, từng thanh củi thành than còn nóng vác trên vai. Tôi vác than chừng 15 phút là ná thở, khạc nhổ ra cả chục bãi nước miếng đầy bụi than đen ngòm.
Vui nhất là làm ruộng. Trước khi làm ruộng ta vét mương để đưa nước trên nguồn về. Cày cho vỡ đất ra, phơi ải vài nắng, sau đó cho nước vào ruộng, ngâm chừng vài hôm là bắt đầu “cày, bừa, thá, ví, trục, trạc”. Lúa cho vào bao ngâm dưới mương, chừng vài ba hôm là lúa chớm mộng. Gieo mầm lúa, chừng một tuần sau, mạ non xanh ngắt trong ánh nắng mai, tôi nghĩ đến những tháng ngày hạnh phúc, khi mồm ngậm thuốc lá phì phèo, tay chống cuốc nhìn những dòng nước chảy lăn tăn vào ruộng. Những thửa ruộng nối liền với nhau bằng những cái bờ nho nhỏ chạy dài tận chân núi mờ xa, giống như một bức tranh chấm phá nhiều mầu sắc tuyệt đẹp.
Mùa gặt thì thú vị nhất trên đời. Những lúc trúng mùa, một hécta, tức là một mẫu ruộng nếu gặt được 80 giạ lúa là mừng húm. Vui nhất là khi lúa đổ đống trên nhã lúa, chiếc xe máy cày chạy ào ào trên nhã lúa cho hạt lúa rụng khỏi thân cây lúa. Thế rồi đêm xuống, khi trời mát, ánh đèn “măng sông” thắp lên chiếu sáng, chúng tôi, những thanh niên khoẻ mạnh chia làm 4 toán. Toán thứ nhất đứng sát bên trong dùng chảng ba, loại bò cào có thanh tre gắn chỉa ba như của Trư Bát Giới trong truyện Tề Thiên Đại Thánh, dùng chỉa ba để xốc lúa.
Lúc này thân lúa và hạt lúa ban ngày do máy cày đạp quyện vào nhau đè lẫn lộn do vậy nặng lắm, cần có sức của thanh niên khoẻ. Toán một, dùng chỉa ba xốc lên thì các hạt lúa rơi xuống và họ hất xác cây lúa ra phía sau, để toán hai làm lại, và toán hai hất xác cây lúa ra toán ba, cứ thế toán thứ tư hất xác cây lúa không còn hạt lúa ra ngoài cùng. Suốt đêm, đến giữa khuya là có cả một đống rơm cao như đồi nhỏ che khuất bên này, bên kia. Giữa sân còn lại đống lúa vàng lóng lánh dưới ánh trăng.
Bọn chúng tôi thanh niên thanh nữ thay vì đi ngủ như các cụ, thì rủ nhau chơi trò trốn tìm, trò chơi đếm “năm ,mười, mười lăm, hai mươi…” và đi trốn. Tôi láu cá đang khi đếm, thì hai tay che mặt, nhưng hé mắt thấy em thôn nữ mà tôi thích chạy trốn trong đống rơm nào, là tôi làm bộ đi tìm và lao vào trong đống rơm với em, bắt được nhau cười khúc khích, vui ơi là vui, thú ơi là thú. Niềm vui của tuổi thanh xuân đồng quê quả thực mộc mạc, hồn nhiên và đầy chân chất của một cái nghề chẳng ra nghề…
(sẽ kể tiếp kỳ tới)
